Giải Ngữ Văn 12 - Tập Hai trang 131
Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 131–132
Mình xem kỹ hai ảnh thì thấy số trang in ở góc là 127 và 128, không phải 131–132 như đề bài ghi. Mình sẽ giải theo đúng nội dung trong ảnh và để header khớp với trang thật nhé.
Đây là phần ÔN TẬP HỌC KÌ II của sách Ngữ văn 12, tập hai (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống).
Tóm tắt phần đầu trang
Yêu cầu cần đạt của bài ôn tập:
- Hệ thống hoá kiến thức đã hình thành trong học kì II.
- Củng cố kĩ năng đọc, viết, nói và nghe qua việc nhìn lại các hoạt động đã triển khai.
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng vào các bài tập mang tính tổng hợp.
Phần I mang tên "Hệ thống hoá kiến thức đã học" gồm 7 câu hỏi/bài tập.
Bài 1: Liệt kê và chia nhóm các văn bản đọc
Đề: Liệt kê và chia nhóm các văn bản đọc có trong SGK Ngữ văn 12, tập hai theo loại văn bản và thể loại văn học. Nêu tên những văn bản thuộc một thể loại văn học chưa được học trước đó (nếu có).
Gợi ý làm bài:
Có thể chia các văn bản đọc trong tập hai thành các nhóm sau:
| Loại / thể loại | Văn bản tiêu biểu |
|---|---|
| Tiểu thuyết hiện đại | "Xuân Tóc Đỏ cứu quốc" (trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng), "Nỗi buồn chiến tranh" (Bảo Ninh) |
| Văn nghị luận | Các văn bản ở Bài 6 về Hồ Chí Minh ("Tuyên ngôn Độc lập", "Nhật kí trong tù"...) |
| Thơ trữ tình hiện đại | Các bài thơ trong chủ đề tương ứng |
| Văn bản nghị luận xã hội, văn bản thông tin tổng hợp | Các văn bản thuộc bài học về thông tin |
Khi làm thực tế, em mở mục lục tập hai, ghi đầy đủ tên văn bản, sau đó xếp vào ba loại lớn: văn bản văn học, văn bản nghị luận, văn bản thông tin. Trong văn bản văn học lại chia nhỏ theo thể loại (tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch...).
Lý do làm theo cách này: phân loại giúp ta thấy rõ sự đa dạng về kiểu loại văn bản và nhận ra thể loại mới gặp lần đầu (ví dụ tiểu thuyết hiện đại được học sâu hơn ở lớp 12).
Bài 2: Mối quan hệ giữa "Yêu cầu cần đạt" và "Tri thức ngữ văn"
Đề: Phân tích mối quan hệ mật thiết giữa Yêu cầu cần đạt và phần Tri thức ngữ văn ở mỗi bài học. Nêu tác dụng của việc nắm các khái niệm then chốt ở phần Tri thức ngữ văn đối với việc đọc hiểu văn bản.
Lời giải:
Mối quan hệ giữa hai phần này rất chặt chẽ:
- Yêu cầu cần đạt nêu ra mục tiêu, đích đến của bài học (em cần đọc hiểu được gì, viết được gì).
- Tri thức ngữ văn cung cấp công cụ, khái niệm để đạt được mục tiêu đó.
Nói cách khác, Yêu cầu cần đạt đặt ra "phải làm được gì", còn Tri thức ngữ văn trang bị "dùng gì để làm được". Hai phần luôn tương ứng: khái niệm nào được giới thiệu là để phục vụ cho việc đọc hiểu nhóm văn bản trong bài đó.
Tác dụng của việc nắm khái niệm then chốt:
- Có "chìa khoá" để giải mã đặc trưng thể loại của văn bản (ví dụ hiểu khái niệm "điểm nhìn trần thuật" giúp đọc hiểu tiểu thuyết tốt hơn).
- Đọc hiểu có định hướng, không lan man, biết tập trung vào yếu tố nghệ thuật đặc trưng.
- Hình thành phương pháp đọc có thể vận dụng sang các văn bản cùng loại ngoài SGK.
Bài 3: Loại và thể loại các văn bản ở Bài 6 (Hồ Chí Minh)
Đề: Các văn bản đọc ở Bài 6 (Hồ Chí Minh – "Văn hoá phải soi đường cho quốc dân đi") thuộc những loại văn bản và thể loại văn học nào? Nêu lí do dẫn đến sự đa dạng về loại, thể loại, xét từ góc độ người sáng tác và từ đặc trưng bài học về tác gia.
Lời giải:
Các văn bản ở Bài 6 thuộc nhiều loại và thể loại khác nhau:
- Văn nghị luận (chính luận): "Tuyên ngôn Độc lập".
- Thơ: các bài trích từ "Nhật kí trong tù".
- Truyện / kí: các tác phẩm văn xuôi nghệ thuật của Người.
Lí do dẫn đến sự đa dạng:
Xét từ góc độ người sáng tác:
- Hồ Chí Minh là một tác gia lớn, sáng tác trên nhiều thể loại, nhiều thứ tiếng, mỗi thể loại phục vụ một mục đích cách mạng cụ thể (chính luận để đấu tranh, thơ để bày tỏ tâm hồn và cổ vũ tinh thần, truyện kí để tố cáo).
- Quan điểm sáng tác coi văn nghệ là vũ khí, nhà văn là chiến sĩ nên Người vận dụng linh hoạt mọi hình thức.
Xét từ đặc trưng bài học về tác gia:
- Bài học về tác gia đòi hỏi giới thiệu toàn diện sự nghiệp sáng tác, nên phải chọn văn bản ở nhiều thể loại để minh hoạ đầy đủ phong cách và đóng góp của tác gia.
Bài 4: Nội dung thực hành tiếng Việt
Đề: SGK Ngữ văn 12, tập hai đã hướng dẫn thực hành tiếng Việt theo những nội dung gì? Nêu ý nghĩa của việc thực hành những nội dung đó đối với việc khám phá nét đặc sắc về mặt ngôn ngữ của các văn bản đọc.
Lời giải:
Các nội dung thực hành tiếng Việt trong tập hai tập trung vào:
- Biện pháp tu từ và hiệu quả nghệ thuật của chúng.
- Đặc điểm ngôn ngữ trang trọng và ngôn ngữ thân mật; lỗi dùng từ, lỗi câu và cách sửa.
- Giữ gìn và phát triển tiếng Việt, các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ.
Ý nghĩa:
- Giúp em hiểu cơ chế tạo nghĩa của ngôn từ, từ đó cảm nhận sâu cái hay, cái đẹp của câu chữ trong văn bản.
- Trang bị công cụ phân tích để nhận ra dụng ý nghệ thuật của tác giả qua cách lựa chọn và tổ chức ngôn ngữ.
- Củng cố năng lực dùng tiếng Việt chuẩn xác, có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi nói và viết.
Bài 5: Sơ đồ Văn học Việt Nam
Đề: Xem kĩ sơ đồ và thực hiện các yêu cầu a, b, c, d (theo nhóm học tập).
Sơ đồ phân chia:
- Văn học Việt Nam gồm Văn học dân gian và Văn học viết.
- Văn học dân gian: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ dân gian, ca dao, tục ngữ.
- Văn học viết: Văn học trung đại (thế kỉ X–XIV; XV–XVII; XVIII–XIX) và Văn học hiện đại (đầu thế kỉ XX–1945; 1945–1975; 1975–đầu thế kỉ XXI).
a. Vẽ lại sơ đồ trên giấy khổ lớn
Giữ nguyên cấu trúc hai nhánh lớn và các nhánh nhỏ. Em có thể trình bày dạng cây ngang hoặc sơ đồ tư duy, miễn là đủ thông tin chính.
b. Ghi tên tác phẩm văn học dân gian tiêu biểu
| Thể loại | Tác phẩm tiêu biểu |
|---|---|
| Thần thoại | Thần Trụ Trời |
| Sử thi | Đăm Săn |
| Truyền thuyết | Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thuỷ Tinh |
| Truyện cổ tích | Tấm Cám, Thạch Sanh |
| Truyện cười | Lợn cưới áo mới, Tam đại con gà |
| Truyện ngụ ngôn | Ếch ngồi đáy giếng, Thầy bói xem voi |
| Truyện thơ dân gian | Tiễn dặn người yêu |
| Ca dao | Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa |
| Tục ngữ | Tục ngữ về thiên nhiên, lao động sản xuất |
c. Ghi tên tác phẩm văn học viết tiêu biểu (kèm tác giả, thể loại, chữ Hán/Nôm với trung đại)
Văn học trung đại:
- Thế kỉ X–XIV: "Nam quốc sơn hà" (chữ Hán, thơ); "Hịch tướng sĩ" – Trần Quốc Tuấn (chữ Hán, văn nghị luận).
- Thế kỉ XV–XVII: "Bình Ngô đại cáo" – Nguyễn Trãi (chữ Hán, cáo); "Truyền kì mạn lục" – Nguyễn Dữ (chữ Hán, truyện truyền kì).
- Thế kỉ XVIII–XIX: "Truyện Kiều" – Nguyễn Du (chữ Nôm, truyện thơ Nôm); thơ Hồ Xuân Hương (chữ Nôm); "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" – Nguyễn Đình Chiểu (chữ Nôm, văn tế).
Văn học hiện đại:
- Đầu thế kỉ XX–1945: "Chí Phèo" – Nam Cao (truyện ngắn); "Vội vàng" – Xuân Diệu (thơ); "Số đỏ" – Vũ Trọng Phụng (tiểu thuyết).
- 1945–1975: "Tây Tiến" – Quang Dũng (thơ); "Vợ nhặt" – Kim Lân (truyện ngắn); "Việt Bắc" – Tố Hữu (thơ).
- 1975–đầu thế kỉ XXI: "Chiếc thuyền ngoài xa" – Nguyễn Minh Châu (truyện ngắn); "Nỗi buồn chiến tranh" – Bảo Ninh (tiểu thuyết); "Đàn ghi ta của Lor-ca" – Thanh Thảo (thơ).
d. Nhận xét khái quát về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam
- Văn học Việt Nam phát triển liên tục, gồm hai bộ phận bổ sung cho nhau: văn học dân gian (truyền miệng) và văn học viết.
- Văn học viết kế thừa văn học dân gian rồi vận động qua hai thời kì lớn: trung đại (chủ yếu chữ Hán và chữ Nôm) và hiện đại (chữ Quốc ngữ).
- Quá trình ấy gắn liền với lịch sử dân tộc, vừa giàu tính truyền thống vừa không ngừng đổi mới, hiện đại hoá về thể loại, ngôn ngữ và tư tưởng.
Bài 6: Các kiểu bài viết đã luyện tập trong học kì II
Đề: Liệt kê những kiểu bài viết đã luyện tập trong học kì II. Theo bạn, kiểu bài viết nào có khả năng ứng dụng cao hơn cả? Vì sao?
Lời giải:
Các kiểu bài viết tiêu biểu trong học kì II:
- Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ.
- Viết bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc hoạt động xã hội.
- Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm.
- Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội.
- Viết thư trao đổi công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm.
Kiểu bài có khả năng ứng dụng cao hơn cả: theo mình là kiểu viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (hoặc viết thư trao đổi công việc).
Vì sao:
- Đây là dạng viết gắn trực tiếp với đời sống, công việc và giao tiếp thực tế sau này.
- Rèn năng lực lập luận, thuyết phục, trình bày quan điểm – kĩ năng cần cho hầu hết mọi lĩnh vực học tập và nghề nghiệp.
(Đây là câu nêu quan điểm, em có thể chọn kiểu bài khác miễn là lí giải hợp lí.)
Bài 7: Sự phong phú của hoạt động nói và nghe
Đề: Trong SGK Ngữ văn 12, tập hai, sự phong phú của hoạt động nói và nghe được thể hiện như thế nào? Phân tích một ví dụ cho thấy hoạt động nói và nghe ở lớp cuối cấp có những đòi hỏi cao hơn về kiến thức và kĩ năng so với các lớp dưới.
Lời giải:
Sự phong phú thể hiện ở:
- Đa dạng hình thức: thuyết trình, tranh biện, thảo luận, trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu, phát biểu trong buổi lễ.
- Đa dạng nội dung: từ vấn đề văn học đến vấn đề xã hội, khoa học, đời sống.
- Kết hợp cả vai trò người nói và người nghe (nghe và phản hồi, nghe và đánh giá).
Phân tích một ví dụ – hoạt động "tranh biện về một vấn đề đời sống":
- Ở các lớp dưới, nói và nghe chủ yếu là kể chuyện, trình bày ý kiến đơn giản.
- Ở lớp 12, tranh biện đòi hỏi cao hơn nhiều:
- Kiến thức: phải có hiểu biết sâu, đa chiều về vấn đề; biết huy động dẫn chứng từ thực tế và tài liệu.
- Kĩ năng: lập luận chặt chẽ, phản biện ý kiến đối phương, kiểm soát cảm xúc, dùng ngôn ngữ chuẩn mực và phương tiện phi ngôn ngữ phù hợp.
- Tư duy: phán đoán nhanh, ứng biến linh hoạt, vừa bảo vệ quan điểm vừa tôn trọng người đối thoại.
Như vậy, hoạt động nói và nghe ở lớp cuối cấp hướng tới năng lực giao tiếp ở mức độ học thuật và xã hội cao, chuẩn bị cho học tập bậc cao hơn và cuộc sống.
Nếu em cần mình giải đúng trang 131–132 (phần khác của bài ôn tập), gửi lại đúng ảnh hai trang đó là mình làm tiếp ngay nhé.
