Giải Ngữ Văn 7 - Tập 2 trang 109
Lời giải chi tiết SGK Lớp 7 · Môn Ngữ Văn · Trang 109–110
Tóm tắt nội dung văn bản (trang 108)
Đoạn trích là cuộc "phỏng vấn" tưởng tượng giữa một cậu bé và nhà văn Nguyễn Quang Thiều – tác giả truyện ngắn Bầy chim chìa vôi. Qua cuộc trò chuyện, ta biết:
- Mon và Mên là tên do nhà văn đặt cho các nhân vật, không phải tên thật.
- Nhà văn từng là một đứa trẻ ở làng ven sông Đáy, cùng bạn bè quan tâm, lo lắng cho bầy chim chìa vôi non trong đêm mưa.
- Ngày nay sông Đáy không còn chim chìa vôi vì con người tàn phá thiên nhiên.
- Thông điệp: khi con người biết yêu và bảo vệ thiên nhiên thì bầy chìa vôi sẽ trở về.
Bài 2: Trả lời câu hỏi
Câu a
Đề: Mon và Mên là ai trong mối quan hệ với nhà văn – tác giả truyện ngắn "Bầy chim chìa vôi"?
Trả lời: Mon và Mên là những nhân vật do chính nhà văn sáng tạo (hư cấu) nên trong truyện ngắn Bầy chim chìa vôi. Tên Mon và Mên là tên nhà văn tự đặt, không phải tên thật. Tuy nhiên, hai nhân vật ấy lại mang hình bóng của chính nhà văn và những đứa trẻ cùng làng thời thơ ấu của ông – những đứa trẻ yêu thương, lo lắng cho bầy chim non.
Câu b
Đề: Vì sao nhà văn khẳng định rằng "tất cả lũ trẻ làng chú đều thức để lắng nghe tiếng mưa, cùng nghĩ về bãi sông và lo cho bầy chim chìa vôi non"?
Trả lời: Nhà văn khẳng định như vậy vì:
- Buổi chiều mưa hôm đó, cả lũ trẻ trong làng đã cùng nhau nói về bầy chim chìa vôi non ở ngoài bãi sông. Đó là điều bọn trẻ quan tâm nhất lúc ấy.
- Bằng sự đồng cảm và trải nghiệm của chính mình, nhà văn tin rằng tình yêu thương loài vật, tấm lòng nhân hậu là điểm chung của những đứa trẻ ở làng. Vì cùng lo lắng cho bầy chim, nên trong đêm mưa lớn, chúng đều thao thức, nghĩ về bãi sông.
Câu c
Đề: Cậu bé – người "phỏng vấn" tác giả – ngạc nhiên vì điều gì?
Trả lời: Cậu bé ngạc nhiên vì: trong câu chuyện, nhà văn nói rằng "chú" cũng có mặt, cũng ở cùng Mon và Mên trong đêm mưa, nhưng lại không thấy "chú" nói gì hay làm gì cả. Cậu bé thắc mắc tại sao nhà văn không cùng các bạn đi cứu bầy chim, lỡ có nguy hiểm xảy ra với Mon và Mên thì sao, bởi trẻ em không nên tự bơi thuyền ra bãi sông mà cần có người lớn đi cùng.
Câu d
Đề: Ngoài Mon và Mên, ai là người có trải nghiệm và kỉ niệm sâu sắc về đêm mưa, bãi sông và bầy chim chìa vôi?
Trả lời: Đó chính là nhà văn Nguyễn Quang Thiều – tác giả truyện ngắn. Ông từng là một đứa trẻ ở làng ven sông Đáy, đã cùng bạn bè trải qua những đêm mưa thức trắng lo cho bầy chim chìa vôi non. Chính những kỉ niệm tuổi thơ sâu sắc ấy đã trở thành chất liệu để ông sáng tác nên câu chuyện.
Câu e
Đề: Theo em, Mon và Mên đang ở đâu? Bầy chim chìa vôi đã bay đi đâu?
Trả lời (gợi ý, em có thể trình bày theo cảm nhận riêng):
- Mon và Mên đang sống trong kí ức tuổi thơ của nhà văn, trong những trang truyện và trong lòng người đọc. Các em ấy cũng có thể là hình ảnh của bất kì đứa trẻ nào yêu thiên nhiên, sống tình cảm và nhân hậu.
- Bầy chim chìa vôi đã bay đi rất xa vì con người đang tàn phá thiên nhiên, môi trường sống ven sông Đáy không còn an toàn cho chúng. Nhưng theo lời nhà văn, bầy chim sẽ trở về khi con người biết yêu thương và bảo vệ thiên nhiên.
Bài 3: Đặt câu hỏi khi đọc sách
Đề: Chọn đọc một cuốn sách đang gây sự tò mò, chú ý đối với em... thử hình dung em có thể đặt ra những câu hỏi nào để làm rõ hơn điều em muốn biết: cách tác giả tạo nên nhân vật hoặc những chi tiết tiêu biểu, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.
Đây là bài tập thực hành cá nhân, em tự chọn sách của mình. Cô gợi ý một số dạng câu hỏi để em đặt ra trong khi đọc:
Về nhân vật:
- Nhân vật này có nguyên mẫu ngoài đời thật không?
- Tác giả dựa vào đâu để xây dựng tính cách, ngoại hình của nhân vật?
- Vì sao tác giả lại để nhân vật hành động/lựa chọn như vậy?
Về chi tiết tiêu biểu:
- Chi tiết này có ý nghĩa gì? Tại sao tác giả lại tả kĩ đến thế?
- Hình ảnh đó tượng trưng cho điều gì?
Về hoàn cảnh ra đời:
- Tác phẩm được viết trong thời gian, bối cảnh nào?
- Điều gì đã thôi thúc tác giả viết nên cuốn sách này?
Về thông điệp:
- Qua câu chuyện, tác giả muốn nhắn gửi điều gì?
- Bài học nào em rút ra cho bản thân?
Phần Viết: Thách thức thứ hai – Từ ý tưởng đến sản phẩm
Phần này hướng dẫn em biến những điều đã đọc, đã cảm nhận thành sản phẩm sáng tạo. Em được chọn một trong ba hoạt động:
- Thể hiện nội dung tóm tắt một câu chuyện theo hình thức truyện tranh. Nên dùng hình vẽ, kí hiệu chỉ dẫn (phương tiện phi ngôn ngữ) để nội dung sinh động, hiệu quả.
- Kể lại một câu chuyện đã đọc bằng thơ bốn chữ hoặc năm chữ.
- Viết bài văn phân tích một nhân vật văn học mà em yêu thích trong cuốn sách đã đọc, có thể vẽ minh họa để bài phân tích thêm hấp dẫn.
Sau đó sách gợi ý tham khảo một số sản phẩm sáng tạo của các bạn học sinh (bắt đầu bằng hình thức truyện tranh).
Đây là phần thực hành sáng tạo, không có đáp án cố định. Em hãy chọn hoạt động mình thích nhất và bắt tay vào làm nhé.
