Giải Ngữ Văn 10 - Tập 1 trang 47
Lời giải chi tiết SGK Lớp 10 · Môn Ngữ Văn · Trang 47–48
Hai trang này nằm ở phần cuối bài học chùm thơ hai-cư (trang 46) và mở đầu Văn bản 4 – Thu hứng của Đỗ Phủ (trang 47). Mình sẽ tóm tắt lý thuyết và giải kỹ phần câu hỏi nhé.
Tóm tắt lý thuyết (Trang 46)
Phần lý thuyết giới thiệu về thơ hai-cư:
- Hai-cư là thể thơ truyền thống của Nhật Bản, một trong những hình thức cô đọng nhất của thơ ca thế giới.
- Một bài hai-cư tiếng Nhật chỉ gồm 3 dòng: dòng 1 và 3 có năm âm tiết, dòng 2 có bảy âm tiết (cấu trúc 5-7-5).
- Đặc trưng: ngắn gọn, hàm súc, biểu hiện rung cảm của con người trước thiên nhiên bằng hình ảnh trong sáng, nhẹ nhàng nhưng giàu tính tượng trưng.
- Hai-cư thường được cấu tứ quanh một phát hiện mang tính "bừng ngộ" về mối quan hệ giữa các sự vật, thiên về khơi gợi hơn là miêu tả, diễn giải.
Ba tác giả tiêu biểu:
| Tác giả | Năm sinh – mất | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Ma-su-ô Ba-sô | 1644 – 1694 | Có công hoàn thiện thơ hai-cư, đưa nó thành thể thơ độc đáo nhất Nhật Bản |
| Phư-cư-ma-xư-y-a Chi-y-ô | 1703 – 1775 | Đánh dấu sự hiện diện của tác giả nữ trong thơ hai-cư |
| Cô-ba-y-a-si Ít-sa | 1763 – 1828 | Nhà thơ kiêm tu sĩ Phật giáo, còn là họa sĩ tài ba |
Trả lời câu hỏi (Trang 46)
Lưu ý: Các câu hỏi này dựa trên ba bài thơ hai-cư đã học ở trang trước (Ba-sô, Chi-y-ô, Ít-sa). Mình giải dựa trên ba bài quen thuộc trong sách Kết nối tri thức:
- Ba-sô: "Trên cành khô / cánh quạ đậu / chiều thu."
- Chi-y-ô: "A, hoa triêu nhan! / Dây gàu vương hoa bên giếng / đành xin nước nhà bên."
- Ít-sa: "Chậm rì, chậm rì / kìa con ốc nhỏ / trèo núi Phu-gi."
Câu 1: Hình ảnh trung tâm và đặc điểm chung
Đề: Hãy nhận diện hình ảnh trung tâm ở từng bài thơ hai-cư và cho biết đặc điểm chung của các hình ảnh ấy.
Trả lời:
- Bài của Ba-sô: hình ảnh trung tâm là cánh quạ đậu trên cành khô vào chiều thu.
- Bài của Chi-y-ô: hình ảnh trung tâm là hoa triêu nhan quấn quanh dây gàu bên giếng.
- Bài của Ít-sa: hình ảnh trung tâm là con ốc nhỏ đang chậm rãi trèo núi Phu-gi.
Đặc điểm chung: đều là những hình ảnh bình dị, nhỏ bé, quen thuộc trong thiên nhiên (con vật, loài hoa, cảnh vật). Tuy đơn sơ nhưng qua cái nhìn của nhà thơ, chúng gợi mở những suy tưởng sâu xa về sự sống, thời gian và mối tương giao giữa con người với thiên nhiên.
Câu 2: Hình ảnh trung tâm trong bài Ba-sô với thời gian và không gian
Đề: Xác định mối quan hệ giữa hình ảnh trung tâm trong bài thơ của Ba-sô với các yếu tố thời gian và không gian.
Trả lời:
- Thời gian: "chiều thu" – thời khắc cuối ngày, cuối mùa, gợi sự tàn lụi, hiu hắt.
- Không gian: "cành khô" – không gian trơ trụi, tĩnh lặng, vắng vẻ.
- Hình ảnh "cánh quạ" (màu đen) đậu trên cành khô trong chiều thu tạo nên sự hòa hợp tuyệt đối giữa cảnh và vật. Quạ – cành khô – chiều thu cùng một gam màu, một sắc thái tịch liêu, cô quạnh. Mối quan hệ này khiến cả bức tranh thu trở thành một khoảnh khắc tĩnh tại, đậm chất thiền, gợi nỗi buồn man mác và sự chiêm nghiệm về cái cô đơn của cõi đời.
Câu 3: Phát hiện trong bài Chi-y-ô và lý do "xin nước nhà bên"
Đề: Bài thơ của Chi-y-ô được triển khai xoay quanh phát hiện nào? Theo bạn, vì sao phát hiện này lại dẫn dắt nhân vật trữ tình sang "xin nước nhà bên"?
Trả lời:
- Phát hiện trung tâm: nhà thơ định kéo nước thì bất ngờ thấy dây gàu đã bị hoa triêu nhan quấn quanh.
- Vì sao sang "xin nước nhà bên": Phát hiện ấy khơi dậy sự nâng niu, trân trọng vẻ đẹp mong manh của sự sống. Nhân vật trữ tình không nỡ gỡ bỏ, làm tổn thương đóa hoa nhỏ bé đang vươn lên. Vì thế bà chọn cách sang xin nước nhà bên để giữ vẹn nguyên dây hoa. Hành động ấy thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên, sự đồng cảm với cái đẹp dù nhỏ bé nhất.
Câu 4: Tương quan giữa "con ốc" và "núi Phu-gi"
Đề: Từ những đặc điểm thường được liên hệ khi hình dung về "con ốc" và "núi Phu-gi", hãy nhận xét về tương quan giữa hai hình ảnh này.
Trả lời:
- Con ốc: nhỏ bé, chậm chạp, yếu ớt, tầm thường.
- Núi Phu-gi: cao lớn, hùng vĩ, là biểu tượng thiêng liêng của Nhật Bản.
Tương quan: Hai hình ảnh đối lập gay gắt về kích thước, tầm vóc (cái nhỏ bé – cái vĩ đại). Sự đặt cạnh nhau ấy tạo nên ấn tượng mạnh: một sinh vật nhỏ nhoi lại dám thực hiện một hành trình lớn lao. Qua đó nhà thơ ngợi ca nghị lực, ý chí bền bỉ; gợi triết lý rằng mỗi sinh thể, dù nhỏ bé đến đâu, đều có giá trị và khát vọng vươn lên của riêng mình.
Câu 5: Cảm xúc khơi gợi từ bài thơ Ba-sô
Đề: Khoảnh khắc được thể hiện trong bài thơ của Ba-sô có thể khơi gợi những cảm xúc gì ở người đọc?
Trả lời:
Khoảnh khắc chiều thu với cánh quạ trên cành khô có thể gợi lên:
- Nỗi buồn, sự cô đơn, hiu quạnh trước cảnh vật tàn úa.
- Cảm giác tĩnh lặng, trầm mặc, dẫn người đọc vào trạng thái suy tư, chiêm nghiệm.
- Sự đồng cảm với cái lẻ loi, cô độc trong cuộc đời, đồng thời cảm nhận được vẻ đẹp riêng của sự tĩnh tại, an nhiên.
Câu 6: Ý nghĩa triết lý trong cách ứng xử với thiên nhiên (bài Chi-y-ô)
Đề: Từ bài thơ của Chi-y-ô, hãy bình luận về ý nghĩa triết lí trong cách ứng xử của con người đối với thiên nhiên mà bài thơ gợi ra.
Trả lời:
Cách bà Chi-y-ô sang xin nước nhà bên thay vì gỡ dây hoa gửi gắm triết lý sống đẹp:
- Con người nên tôn trọng, nâng niu sự sống của tự nhiên, dù đó chỉ là một đóa hoa nhỏ.
- Đề cao thái độ sống hòa hợp, không xâm phạm, không vì lợi ích bản thân mà hủy hoại thiên nhiên.
- Đây cũng là tinh thần từ bi, trân trọng vạn vật trong văn hóa phương Đông – con người và thiên nhiên cùng tồn tại, tương giao bình đẳng.
Câu 7: Cảm nhận về hành trình "chậm rì" của con ốc (bài Ít-sa)
Đề: Bạn cảm nhận như thế nào về hành trình "chậm rì" của con ốc trong bài thơ của Ít-sa?
Trả lời:
Hành trình "chậm rì" của con ốc tuy chậm chạp nhưng đầy kiên trì, bền bỉ. Nó gợi lên bài học về ý chí và nghị lực: thành công không nằm ở tốc độ mà ở sự nhẫn nại, không bỏ cuộc. Con ốc nhỏ bé dám trèo lên ngọn núi cao nhất cho thấy mỗi sinh thể đều có quyền theo đuổi khát vọng lớn lao. Hình ảnh ấy khiến người đọc thêm trân trọng những cố gắng âm thầm, lặng lẽ trong cuộc sống.
Kết nối đọc – viết (Trang 46)
Đề: Từ việc đọc ba bài thơ trong chùm thơ hai-cư, hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày về điều bạn cảm thấy thú vị nhất ở thể thơ hai-cư.
Đoạn văn tham khảo:
Điều thú vị nhất ở thể thơ hai-cư, với tôi, chính là khả năng "kiệm lời mà gợi nhiều". Chỉ với ba dòng thơ ngắn ngủi, thậm chí vài ba hình ảnh giản dị như cánh quạ, dây hoa triêu nhan hay con ốc nhỏ, các nhà thơ Nhật Bản đã mở ra cả một thế giới suy tưởng sâu xa. Đọc thơ hai-cư, tôi không bị dẫn dắt bởi những lời diễn giải dài dòng mà được tự mình "bừng ngộ" trước những phát hiện tinh tế về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Một con ốc chậm rì trèo núi Phu-gi bỗng trở thành biểu tượng của nghị lực; một đóa triêu nhan khiến con người nâng niu sự sống. Chính sự cô đọng, hàm súc và sức gợi mãnh liệt ấy đã làm nên vẻ đẹp riêng, đầy chất thiền của thể thơ hai-cư mà tôi yêu thích. (khoảng 150 chữ)
Văn bản 4: Thu hứng – Cảm xúc mùa thu (Trang 47)
Trang 47 mở đầu văn bản mới, chưa có bài tập mà là phần giới thiệu và văn bản thơ.
Tác giả: Đỗ Phủ – nhà thơ lớn đời Đường (Trung Quốc).
Câu hỏi chuẩn bị (trước khi đọc):
- Chia sẻ ấn tượng về đặc điểm hình thức và nội dung của thơ Đường luật đã học ở cấp Trung học cơ sở.
- Chia sẻ trải nghiệm về việc xa gia đình và cảm giác nhớ nhà.
Gợi ý trả lời nhanh:
- Thơ Đường luật có hình thức chặt chẽ: niêm, luật, đối, vần nghiêm ngặt (thất ngôn bát cú gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ); nội dung hàm súc, cô đọng, giàu hình ảnh và cảm xúc. (Đây là câu chia sẻ cá nhân nên bạn nêu thêm cảm nhận riêng nhé.)
- Câu hỏi về trải nghiệm nhớ nhà là câu mở, bạn tự liên hệ bản thân để dẫn vào tâm trạng nhớ quê của Đỗ Phủ.
Văn bản gồm hai phần: Phiên âm và Dịch nghĩa của bài Thu hứng (bài 1). Bài thơ vẽ nên bức tranh mùa thu tiêu điều, hiu hắt ở vùng Quỳ Châu (núi Vu, kẽm Vu, thành Bạch Đế) và gửi gắm nỗi nhớ quê hương da diết của nhà thơ trong cảnh loạn lạc, tha hương.
Nếu bạn muốn mình giải tiếp phần câu hỏi đọc hiểu của bài Thu hứng (thường nằm ở trang 48-49), gửi mình ảnh trang tiếp theo nhé.
