Giải Ngữ Văn 10 - Tập 1 trang 145

Lời giải chi tiết SGK Lớp 10 · Môn Ngữ Văn · Trang 145–146

Hai trang này thuộc văn bản nghị luận – báo cáo nghiên cứu trích từ cuốn Mấy vấn đề trong kịch bản chèo của tác giả Hà Văn Cầu (NXB Văn hoá, Hà Nội, 1977). Mình sẽ tóm tắt nội dung rồi giải toàn bộ câu hỏi phần luyện tập nhé.

Tóm tắt nội dung văn bản

Văn bản bàn về đặc điểm ngôn ngữ trong nghệ thuật chèo, với các ý chính:

  • Ngôn ngữ nhân vật trong chèo rất công phu, cân nhắc về tiết tấu, vần luật. Dẫn chứng từ các lớp chèo cũ như lời than của Xuý Vân, Trịnh Nguyên (làn điệu Rỉ vong, Vỉa ba than). Các lời trò tuy phá vỡ quy định về số chữ, niêm luật nhưng có sức sống mãnh liệt.
  • Một số vở chèo cũ dùng ngôn ngữ "nâng cao", tác giả chỉ "tả ý" chứ không "tả chân", "chủ thần mà không nệ thực" (ví dụ nhân vật Thị Kính nói bằng ngôn ngữ giàu điển cố).
  • Ngôn ngữ chèo mang tính ước lệ, cách điệu vì chèo là hình thức ca kịch.
  • Về hình thái văn học, ngôn ngữ chèo có ba dạng:
  • Nói thường: dùng khi trao đổi, dẫn chuyện, đặc biệt cho nhân vật hề.
  • Nói có tuyến luật: trình bày tư tưởng, tình cảm của nhân vật cốt truyện.
  • Hát: dùng trong các lớp trữ tình, kịch tính, bộc lộ tâm trạng.
  • Kết luận: việc nghiên cứu chèo còn nhiều vấn đề, tác giả khiêm tốn xem công trình của mình chỉ là bước khơi nguồn ban đầu.

Một điểm đáng chú ý về cấu trúc: các hộp chú thích bên lề chỉ rõ chức năng từng đoạn (Nêu luận điểm – kết quả nghiên cứu; Kết luận, nêu ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu), giúp ta nhận diện đặc trưng của văn bản báo cáo nghiên cứu.

Câu 1: Nhan đề của báo cáo nghiên cứu cho biết điều gì về nội dung và phạm vi nghiên cứu?

Nhan đề Mấy vấn đề trong kịch bản chèo cho biết:

  • Nội dung: tập trung bàn về một số vấn đề thuộc lĩnh vực kịch bản chèo, cụ thể (qua đoạn trích) là đặc điểm ngôn ngữ trong chèo.
  • Phạm vi: từ "mấy vấn đề" cho thấy tác giả không bao quát toàn bộ nghệ thuật chèo mà chỉ chọn lọc một số khía cạnh tiêu biểu, có chủ đích. Cách dùng từ này thể hiện thái độ khiêm tốn, đúng mực của người nghiên cứu, đồng thời giới hạn rõ ràng đối tượng khảo sát là kịch bản (phần văn học) chứ không phải mọi phương diện của chèo.

Câu 2: Báo cáo nghiên cứu có những luận điểm chính nào?

Dựa vào nội dung và các hộp chú thích bên lề, văn bản có những luận điểm chính sau:

Luận điểmNội dung khái quát
1Ngôn ngữ nhân vật trong chèo được xây dựng công phu, cân nhắc về tiết tấu, vần luật và có sức sống mãnh liệt.
2Trong một số vở chèo, ngôn ngữ nhân vật mang tính "nâng cao", "tả ý" mà không "tả chân", vươn tới chỗ nửa tượng trưng.
3Ngôn ngữ đối thoại trong chèo mang tính ước lệ, cách điệu (do chèo là hình thức ca kịch).
4Về hình thái văn học, ngôn ngữ chèo có ba dạng: nói thường, nói có tuyến luật và hát.
5 (kết luận)Nghiên cứu nghệ thuật chèo còn nhiều vấn đề; công trình này chỉ là những thu hoạch bước đầu nhằm khơi nguồn.

Câu 3: Tác giả đã sử dụng cứ liệu như thế nào để làm sáng tỏ các luận điểm?

Tác giả sử dụng cứ liệu rất phong phú và thuyết phục, theo các cách sau:

  • Trích dẫn trực tiếp lời thoại, lời hát trong các vở chèo cổ làm dẫn chứng: lời phá phách của Xuý Vân ("Điên điên dại dại / Dại dại điên điên..."), lời than của Trịnh Nguyên qua làn điệu Rỉ vongVỉa ba than. Những câu thơ này minh hoạ trực tiếp cho luận điểm về tiết tấu, vần luật và sức sống của ngôn ngữ chèo.
  • Dẫn ví dụ nhân vật cụ thể: nhân vật Thị Kính "con nhà cua ốc" lại nói bằng ngôn ngữ gọt giũa, giàu điển cố (đạo tam tòng, cõi linh thông, chối đan quế...) để chứng minh đặc điểm "tả ý" và ngôn ngữ nâng cao.
  • Sử dụng chú thích (cuối trang) giải thích các thuật ngữ chuyên môn như Rỉ vong, Vỉa ba than, nói có tuyến luật, giúp người đọc hiểu chính xác cứ liệu.
  • Kết hợp phân tích, lí giải sau mỗi dẫn chứng, không chỉ nêu ví dụ suông mà còn chỉ ra ý nghĩa, tác dụng của chúng.

→ Cứ liệu vừa cụ thể, vừa được phân tích kĩ, làm các luận điểm trở nên đáng tin cậy và sinh động.

Câu 4: Cuối báo cáo nghiên cứu không có danh mục tài liệu tham khảo. Hãy cho biết suy nghĩ của bạn về điều này.

Đây là câu hỏi mở, em có thể trình bày quan điểm riêng. Gợi ý hướng trả lời:

  • Việc thiếu danh mục tài liệu tham khảo là một hạn chế về mặt hình thức của báo cáo nghiên cứu. Một báo cáo khoa học chuẩn mực cần có phần tài liệu tham khảo để:
  • Thể hiện tính khách quan, khoa học và sự nghiêm túc của công trình.
  • Giúp người đọc kiểm chứng nguồn gốc thông tin, cứ liệu.
  • Tôn trọng quyền tác giả của những công trình đã được trích dẫn, kế thừa.
  • Tạo điều kiện cho người đọc tìm hiểu sâu thêm nếu muốn.
  • Tuy nhiên, cũng cần đặt văn bản trong hoàn cảnh ra đời (năm 1977) – thời điểm mà các quy chuẩn trình bày công trình nghiên cứu ở nước ta chưa thật chặt chẽ, thống nhất như hiện nay. Vì vậy việc thiếu sót này phần nào có thể thông cảm.
  • Bài học rút ra: khi viết báo cáo nghiên cứu, người viết nên có đầy đủ danh mục tài liệu tham khảo để đảm bảo tính khoa học và trung thực.

Em nên nêu rõ quan điểm cá nhân (đồng tình rằng đây là điểm cần bổ sung) kèm lí lẽ, dẫn chứng để bài viết thuyết phục hơn nhé.

Nếu em muốn mình triển khai chi tiết hơn một câu nào đó thành đoạn văn mẫu, cứ nói nhé.

Chế độ đọc sách →