Giải Ngữ Văn 10 - Tập 1 trang 159

Lời giải chi tiết SGK Lớp 10 · Môn Ngữ Văn · Trang 159–160

Hai trang này nằm trong phần ôn tập/luyện đọc của sách. Trang đầu (158) là phần cuối bài viết của Lê Trí Viễn bình bài thơ Thiên Trường vãn vọng (Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra) của Trần Nhân Tông. Trang 159 là hệ thống câu hỏi đọc hiểu cùng các đề Viết và Nói – nghe.

Tóm tắt nội dung văn bản (trang 158)

Đoạn trích là lời bình của nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn về bài thơ Thiên Trường vãn vọng. Tác giả:

  • Giảng nghĩa từng câu thơ chữ Hán (Mục đồng địch lí ngưu quy tận – trẻ chăn trâu thổi sáo dẫn trâu về hết; Bạch lộ song song phi hạ điền – cò trắng từng đôi sà xuống ruộng).
  • Chỉ ra vẻ đẹp thanh bình, sinh sôi của cảnh quê sau chiến tranh: trâu về trong tiếng sáo, cò trắng từng đôi, lúa xanh, cá tôm.
  • Nhấn mạnh: cảnh tuy giản dị, đạm bạc nhưng chứa đựng ý nghĩa lớn lao – đó là cuộc sống thanh bình của non sông đã hồi sinh sau khi sạch bóng quân thù.
  • Liên hệ tới con người tác giả Trần Nhân Tông – một ông vua thi sĩ gần gũi nhân dân, từng cùng dân vào sinh ra tử, nên mới thấm thía cái giá của một bước chân trâu đi thanh bình.

Phần I: Đọc hiểu – Trắc nghiệm

Câu 1: Văn bản thuộc loại nào?

Đề: A. Văn bản văn học; B. Văn bản thông tin; C. Văn bản nghị luận; D. Văn bản đa phương thức.

Đáp án: C. Văn bản nghị luận.

Giải thích: Đây là bài bình thơ – tác giả Lê Trí Viễn nêu ý kiến, phân tích, lí giải và đánh giá giá trị bài thơ bằng lí lẽ và dẫn chứng. Đó chính là đặc trưng của văn nghị luận (cụ thể là nghị luận văn học).

Câu 2: Câu nào khái quát đầy đủ đặc trưng của cảnh vật được gợi lên từ bài thơ?

Đề:

  • A. Bài thơ tả một cảnh thôn quê như muôn vàn cảnh thôn quê lúc chiều xuống.
  • B. Cảnh giản đơn, đạm bạc, quê mùa mà sức chứa đựng lớn lao, kì vĩ.
  • C. Không thể nào khác là một cảnh thanh bình, yên ả, phơn phớt chút tươi vui hiền lành...
  • D. Chiều đã tả nhưng xóm thôn chưa đi vào hoàng hôn hẳn.

Đáp án: B.

Giải thích: Câu B vừa nói được vẻ bề ngoài (giản đơn, đạm bạc, quê mùa) vừa nói được chiều sâu ý nghĩa (sức chứa đựng lớn lao, kì vĩ). Đây là nét đối lập cốt lõi mà tác giả muốn làm nổi bật. Các phương án còn lại chỉ nêu một khía cạnh (cảnh chiều, sự thanh bình) chứ chưa khái quát trọn vẹn.

Câu 3: Bài viết được triển khai theo trình tự nào?

Đề:

  • A. Phân tích lần lượt từng câu thơ một.
  • B. Giảng nghĩa từ ngữ trước, sau đó đi vào phân tích ý nghĩa các câu thơ và bài thơ.
  • C. Phân tích văn bản thơ, tiếp đó mở rộng liên hệ tới hoàn cảnh sáng tác và vị thế của tác giả bài thơ.
  • D. Nêu cảm nhận chung về bài thơ, phân tích bài thơ, đánh giá ý nghĩa của bài thơ.

Đáp án: C.

Giải thích: Bài viết trước hết bám sát văn bản, giảng và phân tích các câu thơ (đoạn 3, 4, 5), sau đó mở rộng sang con người và vị thế của Trần Nhân Tông – một ông vua thi sĩ gần gũi nhân dân (đoạn 6, 7). Trình tự "phân tích văn bản rồi mở rộng liên hệ tác giả, hoàn cảnh" đúng với mạch triển khai này.


Phần II: Trả lời câu hỏi (tự luận)

Câu 1: Những câu nào cho thấy tác giả thường đặt bài thơ vào bối cảnh ra đời để thẩm bình?

Gợi ý trả lời: Đó là những câu liên hệ cảnh thơ với bối cảnh lịch sử đất nước vừa thắng giặc, ví dụ:

  • "...là âm vang của cả non sông, đất nước hồi sinh sau khi sạch bóng quân thù – một quân thù khét tiếng, đến đâu là ở đó cỏ cũng không còn mọc nữa."
  • "Một người dân thường nhìn ra cảnh này vào thời buổi lịch sử hào hùng ấy..."
  • "...để có được một bước chân trâu đi thanh bình phải trả bằng bao nhiêu xương máu, xương máu dân, cả xương máu mình."

Những câu này cho thấy tác giả luôn gắn vẻ đẹp thanh bình của cảnh với cái giá của chiến thắng chống ngoại xâm, tức đặt bài thơ vào bối cảnh ra đời để thẩm bình, đánh giá.

Câu 2: Hiểu biết về con người và vị thế xã hội của Trần Nhân Tông đã giúp tác giả khám phá giá trị nổi bật gì?

Gợi ý trả lời: Nhờ hiểu Trần Nhân Tông là một ông vua thi sĩ, đồng thời là người trực tiếp lăn lộn trong dân, cùng nhân dân vào sinh ra tử đánh đuổi giặc, tác giả bài viết đã khám phá ra:

  • Cảnh thanh bình trong bài thơ không chỉ là cảnh quê bình thường mà là cảnh được nhìn bằng con mắt và tấm lòng của một vị vua thấu hiểu giá trị của hòa bình.
  • Niềm vui, sự xúc động trước "một bước chân trâu đi thanh bình" mang chiều sâu nhân văn: đó là hạnh phúc đổi bằng xương máu của dân và của chính nhà vua.
  • Qua đó thấy được tầm vóc tư tưởng và tình yêu nước, yêu dân của tác giả bài thơ – một ông vua thời Lý – Trần còn rất gần gũi với nhân dân.

Câu 3: Những yếu tố nào của thơ đã được đặc biệt lưu ý phân tích trong văn bản này?

Gợi ý trả lời: Các yếu tố được chú ý gồm:

  • Ngôn từ, hình ảnh thơ: nghĩa của từ ngữ chữ Hán (địch lí, bạch lộ...), các hình ảnh trẻ chăn trâu thổi sáo, đàn cò từng đôi, lúa xanh, cá tôm.
  • Tứ thơ / cảm xúc và tâm tình của chủ thể trữ tình: niềm reo vui, xúc động tinh tế của nhà thơ trước cảnh thanh bình.
  • Mối quan hệ giữa cảnh và tình, giữa cái cụ thể giản dị với ý nghĩa lớn lao, sâu xa.
  • Hoàn cảnh sáng tác và con người tác giả gắn với bài thơ.

Phần Viết (trang 159) – Gợi ý chọn đề

Đây là các đề luyện viết, học sinh chọn một đề:

  • Đề 1: Nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học yêu thích – nên chọn tác phẩm đã học kĩ, có nhiều điều để bàn về nội dung và nghệ thuật.
  • Đề 2: Báo cáo nghiên cứu về một vấn đề trong thần thoại, sử thi – ví dụ: hình tượng người anh hùng, quan niệm về thế giới của người xưa.
  • Đề 3: Bài luận thuyết phục từ bỏ một thói quen/quan niệm chưa phù hợp – ví dụ: thói trì hoãn, lạm dụng điện thoại, quan niệm "học giỏi tự nhiên không cần học văn".

Phần Nói và nghe (trang 159) – Gợi ý

Học sinh chọn một nội dung làm theo nhóm:

  • Nội dung 1: Thảo luận một vấn đề đời sống/văn học còn nhiều ý kiến khác nhau.
  • Nội dung 2: Giới thiệu và đánh giá một tác phẩm văn học theo danh mục gợi ý.
  • Nội dung 3: Lập đề cương báo cáo kết quả một hoạt động trải nghiệm của lớp.

Đây là các nhiệm vụ thực hành mở, không có đáp án cố định nên em chỉ cần chọn chủ đề phù hợp và triển khai theo yêu cầu thể loại.

Nếu em muốn, mình có thể viết mẫu chi tiết cho một đề Viết hoặc một dàn ý Nói – nghe cụ thể nhé.

Chế độ đọc sách →