Giải Giáo dục Kinh Tế và Pháp Luật 12 trang 77

Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn GD Kinh Tế & PhĂ¡p Luật · Trang 77–78

Tóm tắt lý thuyết: Quyền và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân

Phần này nói về hai nội dung chính: quyền kết hôn và quyền li hôn của công dân.

Về kết hôn:

  • Công dân được tự do kết hôn theo nhu cầu, mong muốn nếu đủ điều kiện luật định.
  • Điều kiện độ tuổi: nam đủ 20 tuổi trở lên, nữ đủ 18 tuổi trở lên.
  • Việc kết hôn phải do hai bên nam, nữ tự nguyện, không bên nào ép buộc, lừa dối; không thuộc các trường hợp bị cấm kết hôn.
  • Phải đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Không đăng kí thì việc kết hôn không có giá trị pháp lí, không được Nhà nước thừa nhận, bảo vệ.
  • Phải tuân thủ nguyên tắc một vợ, một chồng và tôn trọng quyền kết hôn của người khác.

Về li hôn:

  • Khi mục đích hôn nhân không đạt được, công dân có quyền yêu cầu Toà án giải quyết li hôn.
  • Li hôn có thể do thuận tình hoặc theo yêu cầu một bên.
  • Hạn chế đặc biệt: khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu li hôn.
  • Cha, mẹ, người thân có quyền yêu cầu Toà án giải quyết li hôn trong trường hợp một bên bị bệnh tâm thần, không nhận thức được hành vi, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình.

Các hành vi bị nghiêm cấm (theo Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014): kết hôn/li hôn giả tạo; tảo hôn; cưỡng ép, lừa dối, cản trở kết hôn/li hôn; người đang có vợ/chồng mà kết hôn hoặc chung sống với người khác; kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực hệ hoặc có quan hệ thân thích bị cấm.

Theo Điều 181 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017), hành vi cưỡng ép, cản trở hôn nhân/li hôn tự nguyện có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.

Trường hợp 1: Anh D chung sống như vợ chồng với người khác

Đề bài:
Sau khi kết hôn, vợ chồng anh D, chị A sinh được 2 người con. Do công việc, anh D sống xa nhà. Gần đây chị A phát hiện anh D đang chung sống như vợ chồng với chị O, hai người còn chụp ảnh cưới, tổ chức đám cưới tại nhà hàng.

Phân tích:

  • Anh D đang có vợ hợp pháp là chị A nhưng lại chung sống như vợ chồng với chị O. Đây là hành vi vi phạm pháp luật.
  • Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: cấm "người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác".
  • Anh D đã vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng. Tùy mức độ, anh D có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • Chị A có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lí, đồng thời có quyền yêu cầu li hôn theo quy định.

Kết luận: Hành vi của anh D (và chị O nếu biết rõ anh D đã có vợ) là trái pháp luật, xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

Trường hợp 2: S kết hôn khi mới 16 tuổi với anh họ

Đề bài:
Tròn 16 tuổi, S được bố mẹ tổ chức đám cưới với anh họ (con trai của chị gái ruột bố của S). Cuộc sống khó khăn, S sinh con gái đầu lòng bị nhiều dị tật bẩm sinh khiến sức khỏe suy yếu.

Phân tích:
Trường hợp này vi phạm nhiều quy định cùng lúc:

  • Tảo hôn: S mới 16 tuổi, chưa đủ 18 tuổi để kết hôn theo luật. Đây là hành vi tảo hôn bị cấm (điểm b khoản 2 Điều 5).
  • Cưỡng ép kết hôn: việc kết hôn do bố mẹ tổ chức, không phải do S tự nguyện quyết định, vi phạm nguyên tắc tự nguyện.
  • Kết hôn giữa người có họ trong phạm vi ba đời: S kết hôn với con trai của chị gái ruột bố mình, tức là anh em họ trong phạm vi ba đời, thuộc trường hợp bị cấm (điểm d khoản 2 Điều 5).

Hậu quả thực tế: con sinh ra bị nhiều dị tật bẩm sinh, một phần do hôn nhân cận huyết. Đây là minh chứng rõ về tác hại của tảo hôn và hôn nhân cận huyết.

Kết luận: Cuộc hôn nhân này trái pháp luật ở cả ba khía cạnh. Bố mẹ S là người tổ chức cũng phải chịu trách nhiệm pháp lí về hành vi tảo hôn, cưỡng ép kết hôn.

Trường hợp 3: Chị H bị cản trở và đe dọa khi muốn li hôn

Đề bài:
Anh B và chị H kết hôn 5 năm, có một con nhỏ. Anh B nhiều lần bạo hành vợ khi say rượu. Chị H muốn li hôn nhưng bị bố mẹ đẻ ngăn cản vì sợ ảnh hưởng thanh danh, thể diện gia đình. Anh B đe dọa nếu chị H li hôn thì sẽ làm hại chị cùng con nhỏ.

Phân tích:

  • Chị H có quyền li hôn: khi mục đích hôn nhân không đạt được, bị bạo hành, chị có quyền yêu cầu Toà án giải quyết li hôn.
  • Hành vi của bố mẹ đẻ chị H: ngăn cản con li hôn là hành vi cản trở li hôn, vi phạm điểm e khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
  • Hành vi của anh B: vừa bạo hành vợ (bạo lực gia đình), vừa đe dọa, dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần để cản trở chị H li hôn. Đây là hành vi cản trở li hôn tự nguyện, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 181 Bộ luật Hình sự (phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm), chưa kể trách nhiệm về hành vi bạo lực gia đình.

Kết luận: Chị H hoàn toàn có quyền yêu cầu Toà án giải quyết li hôn. Cả bố mẹ đẻ (cản trở) và anh B (đe dọa, bạo hành) đều có hành vi vi phạm pháp luật. Chị H nên tìm đến cơ quan chức năng, tổ chức bảo vệ phụ nữ để được bảo vệ an toàn cho mình và con.

Bảng so sánh nhanh ba trường hợp:

Trường hợpHành vi vi phạmĐiều khoản liên quan
1 – Anh DChung sống như vợ chồng với người khác khi đang có vợĐiểm c khoản 2 Điều 5
2 – STảo hôn, cưỡng ép kết hôn, kết hôn cận huyếtĐiểm b, d khoản 2 Điều 5
3 – Anh B, bố mẹ chị HCản trở, đe dọa, bạo lực gia đình cản trở li hônĐiểm e khoản 2 Điều 5; Điều 181 BLHS

Nếu em gửi đúng ảnh trang 77–78, cô sẽ giải tiếp phần luyện tập và vận dụng của bài học này nhé.

Chế độ đọc sách →