Giải Lịch sử 12 trang 85

Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Lịch Sá»­ · Trang 85–86

Tóm tắt lý thuyết

Mục 1. Hoạt động đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1975 – 1985

Trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, Việt Nam tích cực mở rộng quan hệ và hợp tác với nhiều nước. Có thể chia thành 4 hướng chính:

  • Hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa: phối hợp trên diễn đàn quốc tế, đẩy mạnh hợp tác (nhất là kinh tế). Coi trọng quan hệ với Liên Xô; kí nhiều hiệp ước về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học – kĩ thuật. Năm 1978, gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).
  • Với Trung Quốc: đàm phán giải quyết xung đột về biên giới, lãnh thổ, lãnh hải; kiên quyết bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia.
  • Thúc đẩy quan hệ với các nước Đông Nam Á: phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết, hợp tác với Lào, Cam-pu-chia; củng cố quan hệ ba nước Đông Dương. Từ năm 1980, chủ trương thúc đẩy đối thoại, từng bước thiết lập quan hệ với các nước ASEAN.
  • Thiết lập quan hệ với các tổ chức quốc tế và các nước khác: đấu tranh chống chính sách cấm vận của Mỹ, hợp tác giải quyết các vấn đề nhân đạo; đẩy mạnh quan hệ với các nước tư bản; gia nhập các tổ chức quốc tế; tham gia Phong trào Không liên kết.

Hình ảnh minh hoạ:

  • Hình 2: V. Go-rơ-bát-cô (Liên Xô) và Phạm Tuân (Việt Nam) cùng bay vào vũ trụ (1980).
  • Hình 3: Thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu tại Hội nghị cấp cao Phong trào Không liên kết lần thứ 6 tại La Ha-ba-na (Cu-ba) năm 1979.
  • Em có biết? Trong những năm 1977 – 1986, hệ thống phát triển Liên hợp quốc đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam khoảng 527,9 triệu USD.

Mục 2. Hoạt động đối ngoại trong thời kì Đổi mới (từ 1986 đến nay)

Đối ngoại được triển khai nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao vị thế đất nước. Định hướng được Đại hội VII (1991) nêu rõ: "Hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình."

Nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên là phá thế bao vây, cấm vận, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, trong đó then chốt là giải quyết vấn đề Cam-pu-chia. Sau Hiệp định Pa-ri về Cam-pu-chia (10–1991), Việt Nam đã bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc (1991), với Mỹ (1995), gia nhập ASEAN (1995).

Bài tập: Câu hỏi giữa bài

Đề bài: Hãy nêu những hoạt động đối ngoại chủ yếu của Việt Nam trong giai đoạn 1975 – 1985.

Trả lời:

Trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động đối ngoại theo bốn hướng chính:

Hướng đối ngoạiHoạt động chủ yếu
Với các nước xã hội chủ nghĩaPhối hợp trên diễn đàn quốc tế, đẩy mạnh hợp tác toàn diện, nhất là kinh tế; coi trọng quan hệ với Liên Xô; kí nhiều hiệp ước về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học – kĩ thuật. Năm 1978 gia nhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV)
Với Trung QuốcĐàm phán giải quyết các xung đột về biên giới, lãnh thổ, lãnh hải; kiên quyết bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia
Với các nước Đông Nam ÁPhát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết chiến đấu và hợp tác với Lào, Cam-pu-chia; củng cố quan hệ ba nước Đông Dương. Từ năm 1980 chủ trương thúc đẩy đối thoại, từng bước thiết lập quan hệ với các nước ASEAN
Với các tổ chức quốc tế và nước khácĐấu tranh chống chính sách cấm vận của Mỹ, hợp tác giải quyết các vấn đề nhân đạo; đẩy mạnh quan hệ với các nước tư bản, lập cơ quan đại diện ngoại giao ở nhiều nước, gia nhập các tổ chức quốc tế; tham gia Phong trào Không liên kết bảo vệ hoà bình

Giải thích thêm: Giai đoạn này Việt Nam vừa thống nhất đất nước nên ưu tiên hàng đầu là tranh thủ sự ủng hộ, viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa (đặc biệt Liên Xô) để khôi phục kinh tế, đồng thời từng bước phá thế bị cô lập do chính sách cấm vận của Mỹ. Hai sự kiện em nên nhớ làm dẫn chứng: gia nhập SEV (1978) và chuyến bay vũ trụ chung Việt – Xô của Phạm Tuân (1980).

Trang này không có thêm bài tập nào khác. Em cần cô làm rõ phần nào nữa không?

Chế độ đọc sách →