Giải Ngữ Văn 12 - Tập Một trang 79

Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 79–80

Tóm tắt lý thuyết

Phần cuối văn bản Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm, viết thay vua Quang Trung khoảng 1788 – 1789) nêu rõ chính sách cầu hiền: cho phép các quan tiến cử người tài, cho phép người tài tự tiến cử, không bắt tội vì lời nói sơ suất. Kết bài là lời kêu gọi tha thiết người hiền tài hãy ra giúp nước trong buổi "trời trong sáng, đất thanh bình".

Bối cảnh ra đời: sau khi Tây Sơn lập triều đại mới, các sĩ phu Bắc Hà (vốn gắn bó với triều Lê – Trịnh) chưa đồng lòng, nhiều người bất hợp tác. Vua Quang Trung giao Ngô Thì Nhậm viết Chiếu cầu hiền để thuyết phục họ ra phục vụ đất nước.

Bài 1: Lí do và mục đích ban bố Chiếu cầu hiền

Đề: Chiếu cầu hiền được ban bố với lí do và mục đích gì?

Trả lời:

  • Lí do: Sau khi Tây Sơn lập triều đại mới, đất nước vừa trải qua biến động, triều đình còn thiếu người tài giúp việc. Nhiều sĩ phu Bắc Hà còn e dè, bất hợp tác, chưa tin tưởng triều đại mới.
  • Mục đích: Kêu gọi, thu phục và trọng dụng người hiền tài trong cả nước ra cộng tác với triều đại Tây Sơn, cùng vua xây dựng, củng cố đất nước thời bình.

Bài 2: Đối tượng hướng tới và khó khăn khi thuyết phục

Đề: Văn bản hướng tới đối tượng nào trong xã hội lúc bấy giờ? Khi vâng mệnh vua Quang Trung soạn chiếu này, Ngô Thì Nhậm đối diện với những khó khăn gì trong việc thuyết phục các đối tượng đó ra gánh vác việc nước?

Trả lời:

  • Đối tượng hướng tới: các sĩ phu, trí thức Bắc Hà – những người tài đức của triều đại cũ (Lê – Trịnh).
  • Khó khăn khi thuyết phục:
  • Tâm lí trung thành với triều đại cũ, coi việc ra giúp triều đại mới là bất trung, "tôi trung không thờ hai chủ".
  • Thái độ hoài nghi, e ngại đối với Tây Sơn (vốn xuất thân áo vải, bị xem là "ngụy triều").
  • Một số người chọn ở ẩn, mai danh ẩn tích, không muốn ra làm quan.
  • Người viết phải vừa kiên quyết, vừa khéo léo, mềm mỏng để vừa giữ thể diện kẻ sĩ vừa thuyết phục họ thay đổi quan niệm.

Bài 3: Bố cục và mối quan hệ giữa các phần

Đề: Văn bản có mấy phần? Phân tích mối quan hệ giữa nội dung các phần.

Trả lời: Văn bản gồm 3 phần:

PhầnNội dung
Mở đầuNêu quy luật: người hiền tài phải ra giúp đời, phục vụ thiên tử (như sao sáng phải chầu về ngôi Bắc Thần).
Thân bàiThực trạng: cách ứng xử của sĩ phu Bắc Hà (ở ẩn, im lặng, bỏ phí tài năng) và nhu cầu cấp thiết về hiền tài của triều đại mới.
Kết bàiChính sách, đường lối cầu hiền cụ thể và lời kêu gọi tha thiết.

Mối quan hệ: Ba phần liên kết chặt chẽ theo trình tự lập luận tăng tiến. Phần đầu nêu quy luật mang tính chân lí làm tiền đề. Phần giữa soi chiếu quy luật ấy vào thực tế để chỉ ra điều cần thay đổi. Phần cuối đưa giải pháp và lời mời gọi, biến lí lẽ thành hành động. Cách sắp xếp đi từ chân lí → thực trạng → giải pháp khiến lập luận chặt chẽ, thuyết phục.

Bài 4: Nghệ thuật lập luận

Đề: Nghệ thuật lập luận thể hiện như thế nào qua việc dùng lí lẽ và bằng chứng, phối hợp với các yếu tố biểu cảm, thuyết minh?

Trả lời:

  • Lí lẽ sắc bén: Mở đầu bằng quy luật tự nhiên "người hiền như sao sáng" để khẳng định việc ra giúp đời là lẽ tất yếu, không thể chối từ. Lí lẽ vừa có sức nặng đạo lí vừa hợp logic.
  • Bằng chứng cụ thể, thuyết phục: dẫn lời Khổng Tử, nêu thực trạng đất nước buổi đầu dựng nghiệp còn nhiều khó khăn, chính sách cầu hiền rõ ràng (cho tiến cử, tự tiến cử, không bắt tội).
  • Yếu tố biểu cảm: giọng điệu vừa khiêm nhường vừa tha thiết, có lúc thẳng thắn ("Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng?"), thể hiện sự chân thành và cầu thị của bậc quân vương.
  • Yếu tố thuyết minh: trình bày cụ thể, minh bạch các hình thức tiến cử khiến chính sách trở nên thiết thực, dễ thực hiện.

Sự phối hợp này tạo nên một văn bản chính luận vừa chặt chẽ về lí trí, vừa lay động về tình cảm.

Bài 5: Điều tạo nên sức thuyết phục

Đề: Theo bạn, điều gì tạo nên sức thuyết phục của Chiếu cầu hiền?

Trả lời: Sức thuyết phục đến từ nhiều yếu tố kết hợp:

  • Lập luận chặt chẽ, logic, đi từ chân lí đến thực tiễn rồi đến giải pháp.
  • Lí lẽ và bằng chứng có sức nặng, lại dùng điển tích, lời thánh hiền (Khổng Tử) phù hợp với tầng lớp trí thức nho học.
  • Thái độ chân thành, khiêm tốn, cầu thị của người cầm quyền; cách nói vừa cứng rắn vừa mềm mỏng, đánh trúng tâm lí sĩ phu.
  • Chính sách cụ thể, rộng mở, không trù dập, tạo cảm giác an toàn cho người ra cộng tác.
  • Tấm lòng lo cho dân, cho nước hiện rõ phía sau câu chữ.

Bài 6: Khát vọng tác giả gửi gắm

Đề: Viết Chiếu cầu hiền trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, tác giả đã gửi gắm khát vọng lớn lao nào đối với đất nước?

Trả lời: Qua văn bản, tác giả (và vua Quang Trung) gửi gắm khát vọng:

  • Quy tụ được mọi nhân tài trong cả nước, không phân biệt cũ – mới, để cùng chung tay xây dựng đất nước.
  • Xây dựng một triều đại vững mạnh, một quốc gia thái bình, thịnh trị, nhân dân được hưởng "phúc lành tôn vinh".
  • Thể hiện tầm nhìn rộng lớn, tinh thần đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước thương dân sâu sắc.

Kết nối đọc – viết

Đề: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu suy nghĩ về quan điểm: Người có tài cần phát huy tài năng của mình để đóng góp cho sự nghiệp chung.

Đoạn văn tham khảo:

Người có tài cần phát huy tài năng để đóng góp cho sự nghiệp chung – đó là quan điểm đúng đắn và giàu ý nghĩa. Tài năng là vốn quý không chỉ của riêng cá nhân mà còn là tài sản của cộng đồng. Khi người tài đem trí tuệ, năng lực ra phục vụ đất nước, họ giúp giải quyết những vấn đề lớn, thúc đẩy xã hội phát triển, như Ngô Thì Nhậm xưa đã đem ngòi bút và trí tuệ phụng sự triều đại Tây Sơn. Ngược lại, nếu người tài giấu mình, sống an phận, thì tài năng trở nên lãng phí, xã hội mất đi một nguồn lực đáng quý. Tất nhiên, phát huy tài năng phải đi cùng cái tâm trong sáng, hướng tới lợi ích chung chứ không phải danh lợi cá nhân. Là học sinh, em hiểu rằng cần rèn luyện năng lực ngay từ hôm nay để mai sau góp phần nhỏ bé dựng xây quê hương, đất nước.

Văn bản 2: Tôi có một ước mơ (Trích) – Mác-tin Lu-thơ Kinh

Phần chuẩn bị (Trước khi đọc) gồm hai câu hỏi:

Câu 1: Trong lịch sử dân tộc, có những trường hợp một văn kiện chính trị lại trở thành một áng văn chương có sức lay động lớn. Bạn hãy kể tên một vài tác phẩm như vậy.

Trả lời: Có thể kể đến:

  • Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt) – bài thơ "thần" được xem như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên.
  • Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn).
  • Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) – bản tuyên ngôn độc lập thứ hai.
  • Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh, 1945).

Câu 2: Nhiều nhân vật lịch sử đã thể hiện niềm ước mơ về hạnh phúc cho nhân dân, bình yên cho đất nước trong những câu thơ, câu văn hoặc lời phát biểu đầy tâm huyết. Bạn hãy nêu một ví dụ cụ thể để chứng minh.

Trả lời tham khảo:

  • Nguyễn Trãi trong Đại cáo bình Ngô ước mong "Muôn thuở nền thái bình vững chắc / Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu", thể hiện khát vọng về một đất nước thái bình, độc lập lâu dài.
  • Hồ Chí Minh từng nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" – một lời tâm huyết về hạnh phúc của nhân dân.

Nếu bạn cần mình giải tiếp phần nội dung văn bản Tôi có một ước mơ ở các trang sau, cứ gửi ảnh trang đó nhé.

Chế độ đọc sách →