Giải Tiếng Việt 4 - Tập Một trang 75
Lời giải chi tiết SGK Lớp 4 · Môn Tiếng Việt · Trang 75–76
Phần đọc hiểu: TRAI NGỌC VÀ HẢI QUỲ
Câu 1
Đề bài: Cá mực mang gì đi học? Chọn câu trả lời đúng.
- A. Nước biển xanh biếc
- B. Những bông hoa đẹp
- C. Một cái lọ mực
- D. Nhiều đồ dùng học tập
Đáp án đúng: C. Một cái lọ mực Trong bài có câu: "Cá mực tung tăng đi học trong làn nước biển xanh biếc, cái lọ mực kè kè một bên." Vậy cá mực mang theo cái lọ mực khi đi học.
Câu 2
Đề bài: Khi gặp cô trai, vì sao cá mực lễ phép trả lời rồi vội vã bơi đi? Chọn câu trả lời đúng.
- A. Vì cá mực sợ muộn giờ học.
- B. Vì cá mực hơi sợ khi nhìn thấy vỏ ngoài của cô trai.
- C. Vì cá mực muốn đi ngắm bông hoa đẹp.
- D. Vì cá mực muốn bơi đi gặp cá cơm.
Đáp án đúng: B. Vì cá mực hơi sợ khi nhìn thấy vỏ ngoài của cô trai. Bài đọc viết: "Cá mực lễ phép trả lời rồi vội vã bơi đi, nó hơi sợ khi nhìn thấy vỏ ngoài của cô trai."
Câu 3
Đề bài: Vì sao cá mực muốn đến gần hải quỳ? Chọn câu trả lời đúng.
- A. Vì cá mực nghe thấy tiếng gọi của hải quỳ.
- B. Vì hải quỳ đẹp, những cánh tay hoa mềm mại như gọi chào.
- C. Vì cá mực muốn cùng cá cơm đùa nghịch với hải quỳ.
- D. Vì cá mực muốn bơi đến gần hơn để cứu cá cơm.
Đáp án đúng: B. Vì hải quỳ đẹp, những cánh tay hoa mềm mại như gọi chào. Trong bài có câu: "Bông hoa có nhiều cánh hồng hồng, tím tím, mềm mại như gọi chào." Vẻ đẹp ấy đã thu hút cá mực bơi đến gần.
Câu 4
Đề bài: Cô trai đã làm gì khi thấy cá mực và cá cơm bơi đến gần hải quỳ?
Trả lời: Khi thấy cá mực bơi đến gần hải quỳ, cô trai đã gọi giật lại để cảnh báo: "Bé mực, không được đến gần nó, nguy hiểm đấy!" Khi thấy cá cơm bơi đến đùa nghịch với hải quỳ, cô trai cũng lớn tiếng gọi cá cơm để báo cho cá cơm biết nguy hiểm. Nhưng tiếc là không kịp, cá cơm đã bị hải quỳ kéo tuột vào trong.
Câu 5
Đề bài: Cá mực đã hiểu ra điều gì về cô trai và hải quỳ?
Trả lời: Cá mực đã hiểu ra rằng: - Hải quỳ: Bên ngoài rất đẹp, mềm mại như bông hoa nhiều màu sắc nhưng thực ra lại rất dữ và nguy hiểm. - Cô trai: Bên ngoài có vỏ xấu xí, sần sùi nhưng bên trong lại có một tấm lòng tốt đẹp như viên ngọc sáng. Cô trai luôn lo lắng, nhắc nhở để bảo vệ các bạn nhỏ. Vậy là cái đẹp bên ngoài chưa hẳn là tốt, cái xấu bên ngoài chưa hẳn là xấu.
Câu 6
Đề bài: Em rút ra được bài học gì từ câu chuyện này?
Trả lời: Câu chuyện cho em nhiều bài học quý: - Không nên đánh giá người khác chỉ qua vẻ bề ngoài. Vẻ đẹp bên ngoài chưa chắc đã tốt, vẻ xấu bên ngoài chưa chắc đã xấu. - Cái đẹp thật sự chính là tấm lòng tốt bên trong mỗi người. - Cần biết lắng nghe lời khuyên của người lớn để tránh xa những điều nguy hiểm. - Phải biết quan sát, suy nghĩ kĩ trước khi tin vào điều gì đó.
Câu 7
Đề bài: Tìm từ có nghĩa giống với mỗi từ dưới đây và đặt câu với một từ tìm được.
vội vã (…) mừng rỡ (…) sợ hãi (…) cảm động (…)
Trả lời: | Từ cho sẵn | Từ có nghĩa giống | |---|---| | vội vã | vội vàng, hấp tấp, gấp gáp, cuống quýt | | mừng rỡ | vui mừng, hớn hở, hân hoan, vui sướng | | sợ hãi | sợ sệt, hoảng sợ, khiếp sợ, lo sợ | | cảm động | xúc động, rưng rưng, bồi hồi | Đặt câu mẫu: - Em vội vàng chạy đến trường vì sợ muộn học. - Bé hớn hở khoe mẹ điểm mười môn Toán. - Chú thỏ hoảng sợ khi nghe thấy tiếng động lạ. - Em rất xúc động khi đọc bức thư của bà gửi.
Câu 8
Đề bài: Tìm động từ trong mỗi câu dưới đây:
- Cá mực lễ phép trả lời rồi vội vã bơi đi.
- Cá mực đến gần hơn, những cánh hoa mừng rỡ múa mãi lên.
- Cá mực sợ hãi, chạy lại gần cô trai.
- Bé mực cảm động.
Trả lời: Động từ là từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật. | Câu | Động từ | |---|---| | Cá mực lễ phép trả lời rồi vội vã bơi đi. | trả lời, bơi | | Cá mực đến gần hơn, những cánh hoa mừng rỡ múa mãi lên. | đến, múa | | Cá mực sợ hãi, chạy lại gần cô trai. | chạy | | Bé mực cảm động. | cảm động |
B. VIẾT
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề bài dưới đây:
- Đề 1: Viết bài văn thuật lại một giờ học đáng nhớ đối với em.
- Đề 2: Viết bài văn kể lại một câu chuyện đã đọc hoặc đã nghe về trí thông minh hoặc khả năng tìm tòi, sáng tạo của con người.
Bài làm tham khảo Đề 1: Thuật lại một giờ học đáng nhớ
Mở bài: Trong những giờ học ở trường, em nhớ nhất giờ học Tự nhiên và Xã hội tuần trước. Đó là buổi học mà cô giáo đưa cả lớp ra vườn trường để quan sát cây cối. Thân bài: Tiếng trống vào lớp vừa vang lên, cô Lan bước vào với một nụ cười tươi. Cô không mở sách giáo khoa như mọi khi mà thông báo: "Hôm nay cả lớp mình sẽ học ngoài vườn trường." Cả lớp reo lên thích thú. Cô dẫn chúng em ra khu vườn nhỏ phía sau trường. Cô hướng dẫn từng nhóm quan sát một loại cây khác nhau. Nhóm em được phân công quan sát cây bàng. Em chú ý nhìn từng chiếc lá to bằng bàn tay, thân cây sần sùi và những chú kiến nhỏ đang bò trên cành. Cô giáo đến từng nhóm, nhẹ nhàng đặt câu hỏi: "Cây bàng có mấy bộ phận?", "Lá bàng có hình gì?". Chúng em hào hứng trả lời và ghi chép vào vở. Cô còn kể cho cả lớp nghe câu chuyện về sự lớn lên của một chiếc lá. Em cảm thấy thật bất ngờ vì có nhiều điều thú vị đến vậy. Cuối giờ, mỗi nhóm lên trình bày những điều quan sát được. Tiếng vỗ tay vang lên rộn rã giữa sân trường. Kết bài: Giờ học hôm ấy đã giúp em hiểu thêm về thiên nhiên và yêu cây cối hơn. Em mong sẽ có thêm nhiều giờ học thú vị và đáng nhớ như thế.
Bài làm tham khảo Đề 2: Kể lại câu chuyện về trí thông minh
Mở bài: Em đã được nghe bà kể nhiều câu chuyện hay, nhưng câu chuyện em nhớ nhất là chuyện "Cậu bé thông minh". Thân bài: Ngày xưa, có một ông vua muốn tìm người tài để giúp nước. Vua sai một viên quan đi khắp nơi để dò la. Một hôm, viên quan đi qua cánh đồng, thấy hai cha con đang cày ruộng. Quan dừng lại hỏi: "Trâu của ông một ngày cày được mấy đường?". Người cha chưa biết trả lời sao thì cậu con trai nhanh nhảu đáp lại: "Thế xin hỏi ông, ngựa của ông một ngày đi được mấy bước?". Viên quan ngẩn ra, không biết nói gì. Ông biết mình đã gặp được người tài. Vua nghe tin, muốn thử tài cậu bé. Vua sai ban cho làng cậu ba thúng gạo nếp và ba con trâu đực, lệnh phải nuôi cho trâu đẻ thành chín con. Cả làng lo sợ. Cậu bé bảo cha cứ giết trâu, đồ xôi cho cả làng ăn. Sau đó cậu xin vào gặp vua. Cậu khóc òa lên, kể rằng cha không chịu đẻ em bé cho cậu chơi. Vua cười: "Cha mày là đàn ông thì đẻ làm sao được!". Cậu bé liền đáp: "Thế sao trâu đực lại đẻ được ạ?". Vua phục tài cậu bé, ban thưởng rất hậu. Kết bài: Câu chuyện đã giúp em hiểu rằng trí thông minh có thể giúp con người vượt qua mọi khó khăn. Em sẽ chăm học để rèn luyện trí thông minh của mình.
🎯 Ghi nhớ: - Bài đọc "Trai ngọc và hải quỳ" dạy em bài học: Không nên đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài. Cái đẹp bên ngoài chưa hẳn là tốt, cái xấu bên ngoài chưa hẳn là xấu. Tấm lòng nhân hậu mới là vẻ đẹp thật sự. - Động từ là những từ chỉ hoạt động (chạy, bơi, múa…) hoặc trạng thái (vui, buồn, sợ hãi, cảm động…) của sự vật. - Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau, giúp câu văn thêm phong phú, sinh động. - Khi viết bài văn, cần có đủ ba phần: mở bài, thân bài, kết bài; kể theo trình tự rõ ràng và bộc lộ cảm xúc chân thật của mình.
