Giải Tiếng Việt 4 - Tập Một trang 87
Lời giải chi tiết SGK Lớp 4 · Môn Tiếng Việt · Trang 87–88
Lưu ý: Hình ảnh cung cấp gồm trang 86 và trang 87. Mình sẽ giải đầy đủ tất cả bài tập có trong các trang này.
📖 TRANG 86 – Bài đọc "Thanh âm của núi"
Câu 1
Đề bài: Đến Tây Bắc, du khách thường có cảm nhận như thế nào về tiếng khèn của người Mông?
Cách giải
Khi đến Tây Bắc, du khách thường có cảm nhận: - Tiếng khèn vang lên giữa đỉnh núi cao mênh mang lộng gió, nghe rất hùng tráng và say mê. - Hình bóng người nghệ nhân thổi khèn in trên nền trời xanh đẹp hệt như một tuyệt tác của thiên nhiên. - Tiếng khèn đầy khát khao, dạt dào sức sống, dù núi cao, rừng rộng cũng không thể làm chìm khuất.
Câu 2
Đề bài: Đóng vai một người Mông, giới thiệu về chiếc khèn.
- Vật liệu làm khèn
- Những liên tưởng, tưởng tượng gợi ra từ hình dáng cây khèn.
- (…)
Cách giải
Bài giới thiệu mẫu: Xin chào các bạn! Tôi là người Mông sống ở vùng núi Tây Bắc. Hôm nay, tôi sẽ giới thiệu với các bạn về cây khèn – báu vật của dân tộc tôi. Về vật liệu: Cây khèn được làm từ những vật liệu rất gần gũi với núi rừng. Thân khèn làm bằng gỗ tốt, còn các ống dẫn hơi được làm từ ống trúc, ống nứa mọc trên nương. Người thợ phải khéo léo lắp ghép, gọt giũa thì cây khèn mới phát ra âm thanh trong trẻo, vang xa. Về hình dáng: Cây khèn có dáng cong cong rất đẹp. Nhìn cây khèn, tôi liên tưởng đến dáng núi uốn lượn, đến cánh chim đang bay giữa trời xanh, hay đến dòng suối mềm mại chảy quanh bản làng. Về ý nghĩa: Tiếng khèn theo người Mông lên nương, xuống chợ, vang lên trong ngày hội xuân. Tiếng khèn là tiếng lòng, là niềm tự hào của dân tộc tôi.
Câu 3
Đề bài: Theo em, vì sao tiếng khèn trở thành báu vật của người Mông?
Cách giải
Tiếng khèn trở thành báu vật của người Mông vì: - Tiếng khèn gắn bó thân thiết với người Mông trong mọi hoạt động: khi lên nương, khi xuống chợ, khi vui hội xuân. - Tiếng khèn hoà với tiếng cười reo, làm cho làng bản thêm náo nức, vui tươi. - Tiếng khèn được truyền từ đời này sang đời khác, ông cha truyền lại cho con cháu. - Tiếng khèn thể hiện tâm hồn, sức sống và nét văn hoá riêng của dân tộc Mông.
Câu 4
Đề bài: Đoạn cuối bài đọc muốn nói điều gì về tiếng khèn và người thổi khèn?
Cách giải
Đoạn cuối bài đọc muốn nói rằng: - Người thổi khèn và tiếng khèn của họ đẹp như một tuyệt tác của thiên nhiên giữa núi rừng Tây Bắc. - Tiếng khèn đầy khát khao, dạt dào sức sống, không gì có thể làm phai mờ được. - Qua đó, tác giả muốn ca ngợi vẻ đẹp của tiếng khèn và niềm tự hào của người Mông về nét văn hoá quê hương.
Câu 5
Đề bài: Xác định chủ đề của bài đọc Thanh âm của núi. Chọn câu trả lời đúng.
- A. Nét đặc sắc của văn hoá các vùng miền trường tồn cùng thời gian.
- B. Các nhạc cụ dân tộc thể hiện sự sáng tạo đáng tự hào của người Việt Nam.
- C. Tiếng khèn của người Mông là nét văn hoá quý báu, cần được lưu giữ, bảo tồn.
Cách giải
Đáp án đúng: C. Tiếng khèn của người Mông là nét văn hoá quý báu, cần được lưu giữ, bảo tồn. Vì sao? Cả bài đọc chỉ tập trung nói về tiếng khèn của người Mông chứ không nói chung về văn hoá các vùng miền (loại A) hay nhiều loại nhạc cụ (loại B). Bài đọc cho thấy tiếng khèn rất quý, là báu vật cần được giữ gìn.
✏️ TRANG 87 – Luyện từ và câu: Luyện tập về biện pháp nhân hoá
Câu 1
Đề bài: Tìm vật, hiện tượng được nhân hoá trong các đoạn dưới đây. Cho biết chúng được nhân hoá bằng cách nào.
(Ba cách nhân hoá:
- Gọi vật, hiện tượng bằng những từ ngữ chỉ người
- Dùng từ ngữ chỉ hoạt động, đặc điểm của người để kể, tả về vật, hiện tượng
- Trò chuyện, xưng hô với vật, hiện tượng như với người)
Cách giải
*Đoạn a (Phạm Hổ) – Nói về nước và bò:*
| Vật được nhân hoá | Từ ngữ nhân hoá | Cách nhân hoá |
|---|---|---|
| Nước | nằm nhìn mây, nghe, cười nhoẻn miệng | Cách 2: dùng từ chỉ hoạt động của người |
| Bò | tưởng, bạn, ngoái trước nhìn sau, gọi mãi | Cách 1 (gọi "bạn") + Cách 2 (tưởng, ngoái, gọi) |
➜ Đoạn a dùng cách 1 và cách 2.
*Đoạn b (Vũ Thế Hùng) – Nói về bão:*
| Vật được nhân hoá | Từ ngữ nhân hoá | Cách nhân hoá |
|---|---|---|
| Bão | có chân, hay chạy nhảy, có tay, móng dài vuốt sắc, cào | Cách 2: dùng từ chỉ đặc điểm và hoạt động của người |
➜ Đoạn b dùng cách 2: tả bão như một con người có chân, có tay, biết chạy nhảy, biết cào.
Đoạn c (Theo Nguyễn Kiên) – Nói về các loài chim:
| Vật được nhân hoá | Từ ngữ nhân hoá | Cách nhân hoá |
|---|---|---|
| Chích choè | thím chích choè, nhanh nhảu | Cách 1 (gọi "thím") + Cách 2 (nhanh nhảu) |
| Khướu | chú khướu, lắm điều | Cách 1 (gọi "chú") + Cách 2 (lắm điều) |
| Chào mào | anh chào mào, đỏm dáng | Cách 1 (gọi "anh") + Cách 2 (đỏm dáng) |
| Cu gáy | bác cu gáy, trầm ngâm | Cách 1 (gọi "bác") + Cách 2 (trầm ngâm) |
➜ Đoạn c dùng cách 1 và cách 2: gọi các loài chim bằng từ chỉ người (thím, chú, anh, bác) và tả chúng bằng từ chỉ tính nết của người.
🎯 Ghi nhớ: - Bài đọc Thanh âm của núi ca ngợi tiếng khèn – báu vật văn hoá của người Mông, cần được lưu giữ và bảo tồn. - Biện pháp nhân hoá có 3 cách: 1. Gọi vật, hiện tượng bằng từ ngữ chỉ người (chú, bác, anh, thím, bạn…) 2. Tả, kể về vật bằng từ chỉ hoạt động, đặc điểm của người (cười, nhìn, nhanh nhảu, đỏm dáng…) 3. Trò chuyện, xưng hô với vật như với người - Nhân hoá giúp câu văn, câu thơ trở nên sinh động, gần gũi và đáng yêu hơn.
