Giải Tiếng Việt 5 - Tập Hai trang 37

Lời giải chi tiết SGK Lớp 5 · Môn Tiếng Việt · Trang 37–38

Tóm tắt lý thuyết

Trang 35 là phần cuối bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của nhà thơ Huy Cận. Hai khổ thơ cuối tả cảnh đoàn thuyền kéo lưới lúc sao mờ, rồi trở về trong ánh bình minh rực rỡ. Bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên biển cả và niềm vui lao động hăng say của người dân chài.

Trang 36 là phần Luyện từ và câu: Luyện tập về câu ghép. Cần nhớ:

  • Câu ghép có từ hai vế câu trở lên, mỗi vế thường có đủ chủ ngữ – vị ngữ.
  • Các vế câu ghép được nối với nhau bằng:
  • Kết từ (và, nhưng, hoặc, vì... nên, nếu... thì, tuy... nhưng...).
  • Cặp từ hô ứng (càng... càng, vừa... đã, chưa... đã...).
  • Nối trực tiếp bằng dấu câu (dấu phẩy, dấu chấm phẩy...).

Bài 1: Khung cảnh đoàn thuyền ra khơi ở khổ thơ thứ nhất

Đề: Ở khổ thơ thứ nhất, đoàn thuyền đánh cá ra khơi trong khung cảnh thiên nhiên như thế nào? Cách miêu tả của nhà thơ có gì đặc biệt? (gợi ý: Mặt trời – Sóng – ...)

Lời giải:

Đoàn thuyền ra khơi vào lúc hoàng hôn, khi thiên nhiên biển cả vô cùng tráng lệ:

  • Mặt trời: được ví như hòn lửa đang lặn xuống biển (Mặt trời xuống biển như hòn lửa).
  • Sóng: cài then, đêm sập cửa – sóng và màn đêm như đang khép lại cánh cửa của vũ trụ.
  • Gió: đoàn thuyền căng buồm ra khơi cùng câu hát.

Điểm đặc biệt trong cách miêu tả: nhà thơ dùng biện pháp so sánh và nhân hóa rất tài tình. Vũ trụ được hình dung như một ngôi nhà lớn: mặt trời là hòn lửa, sóng là then cửa, đêm là cánh cửa đóng lại. Cách viết này khiến cảnh biển vừa kì vĩ, rộng lớn vừa gần gũi, ấm áp.

Bài 2: Chi tiết thể hiện tình cảm của người đánh cá

Đề: Tìm trong bài thơ những chi tiết thể hiện tình cảm, cảm xúc của những người đánh cá trên biển (gợi ý: Niềm vui trong lao động / Tình yêu và lòng biết ơn đối với biển cả).

Lời giải:

Niềm vui trong lao động:

  • Câu hát căng buồm cùng gió khơi – tiếng hát yêu đời, hăng say khi ra khơi.
  • Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng – sức khỏe, niềm vui khi được mùa cá.
  • Câu hát căng buồm với gió khơi (lặp lại lúc trở về) – niềm vui sau một đêm lao động bội thu.

Tình yêu và lòng biết ơn đối với biển cả:

  • Biển cho ta cá như lòng mẹ / Nuôi lớn đời ta tự buổi nào – coi biển như người mẹ hiền nuôi dưỡng con người, thể hiện lòng biết ơn sâu nặng.

→ Cả hai cảm xúc đều có trong bài thơ: người dân chài vừa say mê lao động, vừa yêu thương, biết ơn biển cả.

Bài 3: Ý nghĩa những hình ảnh ở khổ thơ cuối

Đề: Những hình ảnh ở khổ thơ cuối có ý nghĩa gì?

Lời giải:

Khổ thơ cuối tả cảnh đoàn thuyền trở về lúc bình minh:

  • Câu hát căng buồm với gió khơi, Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời: hình ảnh đoàn thuyền hối hả trở về, như đang chạy đua với thời gian, với mặt trời. Thể hiện khí thế lao động khẩn trương, mạnh mẽ.
  • Mặt trời đội biển nhô màu mới: bình minh lên, một ngày mới tươi sáng bắt đầu, gợi niềm tin và hi vọng.
  • Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi: thuyền đầy ắp cá, ánh nắng chiếu vào mắt cá lấp lánh như muôn vàn mặt trời nhỏ – báo hiệu một chuyến ra khơi thắng lợi, được mùa.

→ Những hình ảnh này ca ngợi thành quả lao động và niềm vui, niềm tự hào của người dân chài trước cuộc sống ấm no.

Bài 4: Những vẻ đẹp của cuộc sống

Đề: Bài thơ giúp em cảm nhận được những vẻ đẹp nào của cuộc sống?

Lời giải (gợi ý cảm nhận):

Bài thơ giúp em cảm nhận:

  • Vẻ đẹp tráng lệ, kì vĩ của thiên nhiên biển cả lúc hoàng hôn và bình minh.
  • Vẻ đẹp của con người lao động: khỏe khoắn, hăng say, lạc quan, yêu đời.
  • Vẻ đẹp của cuộc sống lao động ấm no, hạnh phúc, tràn đầy niềm tin vào tương lai.

(*) Học thuộc lòng bài thơ: em đọc nhiều lần từng khổ, chú ý nhịp thơ và những hình ảnh đẹp để dễ thuộc.


Bài 1: Tìm câu ghép và cách nối các vế

Đề: Tìm câu ghép trong các đoạn văn dưới đây và cho biết các vế của mỗi câu ghép được nối với nhau bằng cách nào.

Đoạn a (Tô Hoài):

Câu ghépCác vếCách nối
(1) Làng Tày, làng Dao ven suối và trong rừng, nhưng làng người Mông ở chơ vơ đỉnh núi, giữa cỏ tranh mênh mông.Vế 1: Làng Tày, làng Dao ven suối và trong rừng / Vế 2: làng người Mông ở chơ vơ đỉnh núi...Nối bằng kết từ "nhưng"
(2) Vách và mái nhà đều ghép bằng những miếng gỗ pơ-mu, nhà nhà ám khói sạm đen tưởng như làng xóm liền với trời xanh.Vế 1: Vách và mái nhà đều ghép bằng những miếng gỗ pơ-mu / Vế 2: nhà nhà ám khói sạm đen...Nối trực tiếp bằng dấu phẩy

→ Các câu (3), (4), (5) là câu đơn (chỉ có một cụm chủ – vị).

Đoạn b (Võ Quảng):

Câu ghépCác vếCách nối
(5) Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút.Vế 1: Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét / Vế 2: tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vútNối bằng kết từ "nhưng"
(8) Thỏ vừa đặt chân xuống nước đã vội co chân lên.Vế 1: Thỏ vừa đặt chân xuống nước / Vế 2: (Thỏ) đã vội co chân lênNối bằng cặp từ hô ứng "vừa... đã..."
(9) Thỏ cố khều nhưng đưa chân không tới.Vế 1: Thỏ cố khều / Vế 2: (Thỏ) đưa chân không tớiNối bằng kết từ "nhưng"

→ Các câu (1), (2), (3), (4), (6), (7) là câu đơn.

Bài 2: Tìm cặp kết từ hoặc cặp từ hô ứng thay cho bông hoa

Đề: Tìm cặp kết từ hoặc cặp từ hô ứng thay cho bông hoa để tạo câu ghép.

Lời giải:

a. Nếu em có một khu vườn rộng thì em sẽ trồng thật nhiều loại cây.
→ Cặp kết từ Nếu... thì... (chỉ điều kiện – kết quả).

b. Tuy thành phố này không sầm uất, hiện đại nhưng nó rất hấp dẫn du khách.
→ Cặp kết từ Tuy... nhưng... (chỉ sự tương phản, nhượng bộ).

c. Mọi người càng đối xử tốt với nhau thì cuộc sống càng tốt đẹp hơn.
→ Cặp từ hô ứng càng... càng... (chỉ sự tăng tiến).

Bài 3: Viết đoạn văn về bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá"

Đề: Viết đoạn văn (3 – 5 câu) về bài thơ Đoàn thuyền đánh cá, trong đó có câu ghép chứa kết từ để nối các vế câu.

Bài làm tham khảo:

Đoàn thuyền đánh cá của nhà thơ Huy Cận là một bài thơ mà em rất yêu thích. Khi đoàn thuyền ra khơi, mặt trời xuống biển như hòn lửa và màn đêm dần buông xuống mặt biển bao la. Những người dân chài làm việc rất hăng say nên chuyến ra khơi của họ thu được rất nhiều cá. Bài thơ tuy ngắn nhưng đã giúp em cảm nhận được vẻ đẹp của biển cả và niềm vui lao động của con người.

Trong đoạn văn trên:

  • Câu ghép 1: "...mặt trời xuống biển như hòn lửa và màn đêm dần buông xuống..." – nối bằng kết từ và.
  • Câu ghép 2: "Những người dân chài làm việc rất hăng say nên chuyến ra khơi... thu được rất nhiều cá." – nối bằng kết từ nên.
  • Câu ghép 3: "Bài thơ tuy ngắn nhưng đã giúp em cảm nhận được..." – nối bằng cặp kết từ tuy... nhưng...

Em có thể giữ một câu ghép là đủ theo yêu cầu, thầy viết nhiều để em dễ chọn nha.

Chế độ đọc sách →