Giải Ngữ Văn 6 - Tập 1 trang 43

Lời giải chi tiết SGK Lớp 6 · Môn Ngữ Văn · Trang 43–44

Tóm tắt nội dung trang

Trang 42 in phần cuối bài thơ Chuyện cổ tích về loài người (Xuân Quỳnh), kèm các ô HÌNH DUNG gợi ý người đọc tưởng tượng. Trang 43 là phần Sau khi đọc: giới thiệu tác giả, hệ thống câu hỏi đọc hiểu, bài viết kết nối với đọc, và mở đầu phần Thực hành tiếng Việt (Nghĩa của từ ngữ).

Đôi nét về tác giả: Xuân Quỳnh (1942 – 1988), quê ở Hà Nội. Thơ và truyện viết cho thiếu nhi của bà tràn đầy yêu thương, trìu mến, hình thức giản dị, ngôn ngữ trong trẻo. Các tập tiêu biểu: Lời ru trên mặt đất, Bầu trời trong quả trứng, Bến tàu trong thành phố.


Phần Trả lời câu hỏi

Câu 1: Nêu căn cứ để xác định Chuyện cổ tích về loài người là một bài thơ.

Có thể dựa vào các đặc điểm hình thức và nội dung:

  • Văn bản được chia thành nhiều khổ, mỗi dòng thơ ngắn (chủ yếu 5 chữ), gọn gàng.
  • Có vần, có nhịp điệu (nhịp 5 chữ tạo âm hưởng nhẹ nhàng như lời ru).
  • Sử dụng nhiều hình ảnh, biện pháp tu từ (so sánh, nhân hóa) giàu sức gợi.
  • Thể hiện cảm xúc, tình cảm yêu thương dành cho trẻ thơ.

→ Đây là bài thơ viết theo thể thơ năm chữ.

Câu 2: Trong tưởng tượng của nhà thơ, thế giới đã biến đổi ra sao sau khi trẻ con ra đời?

Khi trẻ con sinh ra, mọi thứ trên đời lần lượt xuất hiện để dành cho trẻ:

  • Mặt trời nhô cao cho trẻ nhìn rõ.
  • Cây cối, cỏ, hoa, chim chóc, sông, biển, đám mây, con đường... đều sinh ra để trẻ nhận biết thế giới.
  • Rồi có mẹ, có bà, có bố, có trường lớp, thầy giáo, chữ viết.

→ Tất cả vạn vật và những người thân yêu đều xuất hiện vì trẻ em, để chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy dỗ trẻ. Trẻ em là trung tâm, là điều quý giá nhất.

Câu 3: Món quà tình cảm nào mà theo nhà thơ, chỉ có mẹ mới đem đến được cho trẻ?

Đó là tình yêu thương và lời ru – sự chăm sóc, vỗ về. Mẹ đem đến cho trẻ:

  • Tình yêu, lời ru, sự bế bồng, chăm bẵm.
  • Qua lời ru, mẹ truyền cho con cả thế giới: cái bống, cái bang, cánh cò, vị gừng, vầng trăng, bãi sông...

→ Đó là tình mẫu tử thiêng liêng, sự yêu thương ấm áp chỉ mẹ mới trao trọn vẹn được.

Câu 4: Bà đã kể cho trẻ nghe những câu chuyện gì? Nêu những điều bà muốn gửi gắm.

Bà kể các truyện cổ:

  • Chuyện con cóc, nàng tiên.
  • Chuyện cô Tấm ở hiền.
  • Chuyện thằng Lý Thông ở ác.

Điều bà gửi gắm:

  • Bài học đạo lí: ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ.
  • Hướng trẻ đến cái thiện, biết yêu thương, sống lương thiện và tránh xa cái xấu, cái ác.

Câu 5: Điều bố dành cho trẻ có gì khác so với điều bà và mẹ dành cho trẻ?

Người thânĐiều dành cho trẻ
MẹTình yêu thương, lời ru, sự chăm sóc, vỗ về
Những câu chuyện cổ, bài học đạo lí, nuôi dưỡng tâm hồn
BốSự hiểu biết, dạy trẻ biết ngoan, biết nghĩ; mở mang nhận thức về thế giới (mặt bể, con đường, núi, trái đất...)

→ Mẹ và bà nghiêng về nuôi dưỡng tình cảm, tâm hồn; còn bố nghiêng về dạy dỗ trí tuệ, hiểu biết, giúp trẻ khôn lớn và nhận thức thế giới rộng lớn.

Câu 6: Trong khổ thơ cuối, hình ảnh trường lớp và thầy giáo hiện lên như thế nào?

  • Mọi thứ xuất hiện theo thứ tự: chữ → ghế, bàn → lớp, trường → thầy giáo.
  • Hình ảnh giản dị, gần gũi: cái bảng, cục phấn, lớp học.
  • Thầy giáo là người mở ra tri thức, dạy chữ, dạy "Chuyện loài người" trước nhất.

→ Trường lớp và thầy giáo hiện lên gần gũi, ấm áp, là nơi chắp cánh tri thức cho trẻ em.

Câu 7: Nhan đề Chuyện cổ tích về loài người gợi cho em suy nghĩ gì?

  • Nhan đề gợi cách lí giải nguồn gốc loài người theo lối cổ tích, kì diệu chứ không theo khoa học.
  • Cách lí giải ấy đầy yêu thương: tất cả sinh ra là vì trẻ em.
  • Gợi sự trân trọng trẻ thơ, đề cao tình cảm gia đình và niềm yêu thương con người.

Câu 8: Câu chuyện về nguồn gốc loài người qua thơ Xuân Quỳnh có gì khác? Ý nghĩa của sự khác biệt.

Sự khác biệt:

  • Các truyện em từng biết (truyền thuyết, khoa học) thường giải thích loài người có trước, rồi mới có vạn vật; con người tiến hóa hoặc do thần linh tạo ra.
  • Trong bài thơ này, trẻ em sinh ra trước nhất, rồi mọi thứ (mặt trời, cây cỏ, mẹ, bà, bố, trường lớp) mới lần lượt xuất hiện vì trẻ.

Ý nghĩa:

  • Thể hiện cái nhìn yêu thương, đặt trẻ em làm trung tâm của vũ trụ.
  • Đề cao, trân trọng và dành tất cả những điều tốt đẹp nhất cho trẻ thơ.

Phần Viết kết nối với đọc

Đề: Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) thể hiện cảm xúc của em về một đoạn thơ em yêu thích trong bài Chuyện cổ tích về loài người.

Đoạn văn tham khảo:

Trong bài thơ Chuyện cổ tích về loài người, em thích nhất khổ thơ viết về tình yêu của mẹ dành cho trẻ. Những lời thơ mộc mạc mà ấm áp đã gợi lên hình ảnh người mẹ dịu hiền với lời ru ngọt ngào. Qua lời ru ấy, mẹ mang đến cho con cả một thế giới: cánh cò, vị gừng, vầng trăng, dòng sông. Em cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng, sự chăm sóc, vỗ về mà chỉ mẹ mới trao trọn vẹn cho con. Đọc những câu thơ, em thấy lòng mình ấm áp và càng thêm yêu thương, biết ơn mẹ của mình. Xuân Quỳnh đã viết về tình mẹ thật giản dị mà sâu lắng, khiến người đọc xúc động mãi.

Thực hành tiếng Việt – Nghĩa của từ ngữ

Trang 43 mới in phần mở đầu, chưa đủ các yêu cầu cụ thể (câu 1 mới hiện đoạn thơ trích, các yêu cầu a, b, c nằm ở trang sau). Khi em gửi tiếp trang kế, cô sẽ giải trọn phần Thực hành tiếng Việt này nhé.

Đoạn thơ đã in để chuẩn bị làm bài:

Mắt trẻ con sáng lắm Nhưng chưa thấy gì đâu! Mặt trời mới nhô cao Cho trẻ con nhìn rõ.

Em gửi giúp cô trang 44 để cô giải tiếp phần bài tập tiếng Việt nha.

Chế độ đọc sách →