Giải Ngữ Văn 6 - Tập 1 trang 113

Lời giải chi tiết SGK Lớp 6 · Môn Ngữ Văn · Trang 113–114

PHẦN 1: SAU KHI ĐỌC

Giới thiệu tác giả và tác phẩm

Nguyễn Tuân (1910 – 1987) quê ở Hà Nội. Ông là nhà văn có phong cách độc đáo, lối viết tài hoa, cách dùng từ ngữ đặc sắc. Thể loại sở trường của ông là kí, truyện ngắn. Một số tác phẩm tiêu biểu: Vang bóng một thời (tập truyện ngắn), Sông Đà (tuy bút)...

Bài Cô Tô được viết nhận một chuyến ra thăm đảo của nhà văn, được in trong tập Kí, xuất bản lần đầu năm 1976.


TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 1

Đề bài: Qua bài kí Cô Tô, nhà văn đã đưa người đọc đến những nơi nào và gặp gỡ những ai?

Cách giải

Bước 1: Xác định các địa điểm xuất hiện trong bài

Nhà văn đưa người đọc đến:

  • Đảo Cô Tô (Quảng Ninh)
  • Cái giếng nước ngọt Thanh Luân
  • Hợp tác xã Bắc Loan Đầu

Bước 2: Xác định các nhân vật được nhắc đến

Người đọc gặp gỡ:

  • Những người chài lưới trên muôn thuở Biển Đông
  • Những người lao động bình thường đang tắm quanh giếng
  • Anh hùng Châu Hoà Mẫn (người đi chung thuyền với nhà văn)
  • 18 thuyền lớn nhỏ của hợp tác xã Bắc Loan Đầu
Đáp án: Nhà văn đưa người đọc đến đảo Cô Tô, cái giếng nước ngọt Thanh Luân, hợp tác xã Bắc Loan Đầu. Người đọc được gặp gỡ những người chài lưới trên biển, những người lao động bình thường, và đặc biệt là anh hùng Châu Hoà Mẫn.

Câu 2

Đề bài: Tìm những từ ngữ miêu tả sự đổi đời của trận bão. Những từ ngữ nào cho thấy rõ nhất việc tác giả có chú ý miêu tả trận bão giống như một trận chiến?

Cách giải

Bước 1: Tìm từ ngữ miêu tả sự đổi đời của trận bão

Các từ ngữ thể hiện:

  • "mực nước giếng đổi lên đầu lên có lên vai lên lưng"
  • "cái giếng nước ngọt ở rìa một hòn đảo giữa biển"
  • "sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền"

Bước 2: Tìm từ ngữ miêu tả trận bão như trận chiến

Các từ ngữ rõ nhất:

  • "Mực nước giếng vào thùng gỗ, vào những cong những ang"
  • "Trận bão vừa rồi quăng vào"
  • "Chổ bãi đá nuôi sâu mười vạn con hải sâm"
  • "18 thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng"
  • "Anh hùng Châu Hoà Mẫn cũng bốn bạn xã viên đi chung một thuyền. Anh quây nước bên bờ giếng"
Đáp án: Từ ngữ miêu tả sự đổi đời: "mực nước giếng đổi", "sinh hoạt vui như cái bến", "đậm đà mát nhẹ". Từ ngữ cho thấy trận bão như trận chiến: "trận bão", "quăng vào", "đánh cá hồng", "quây nước" - những động từ mang tính hành động mạnh mẽ, quyết liệt.

Câu 3

Đề bài: Biển sau bão hiện lên như thế nào (qua hình ảnh bầu trời, cây, nước biển, mặt trời,...)?

Cách giải

Phân tích các hình ảnh thiên nhiên sau bão:

  • Mặt trời: "Khi mặt trời đã lên một vài con sào"
  • Nước biển: "nước biển hùng hồng" (màu đỏ hồng tươi sáng)
  • Bầu trời: Tác giả không miêu tả trực tiếp nhưng qua ánh sáng mặt trời có thể suy ra bầu trời trong xanh
  • Không khí: "tức là lúc nó trở về sự bình dị hằng ngày"
  • Cái giếng: "mực nước giếng đổi lên đầu lên có lên vai lên lưng"
Đáp án: Biển sau bão hiện lên tươi sáng, bình yên. Mặt trời đã lên cao, nước biển hùng hồng (màu đỏ hồng), mực nước giếng dâng cao. Thiên nhiên trở về sự bình dị, mọi sinh hoạt trở lại nhịp sống thường ngày.

Câu 4

Đề bài: Theo em, để nhận ra vẻ đẹp của Cô Tô, nhà văn đã quan sát cảnh thiên nhiên và hoạt động của con người trên đảo ở những thời điểm nào và từ những vị trí nào?

Cách giải

Thời điểm quan sát:

  • Sáng sớm: "Khi mặt trời đã lên một vài con sào"
  • Sau trận bão: "tức là lúc nó trở về sự bình dị hằng ngày"
  • Thời điểm ra khơi: "hôm nay hợp tác xã Bắc Loan Đầu cho 18 thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng"

Vị trí quan sát:

  • Bên cái giếng nước ngọt Thanh Luân
  • Trên thuyền cùng với anh hùng Châu Hoà Mẫn
  • Quan sát từ xa cảnh 18 thuyền ra khơi
Đáp án: Nhà văn quan sát vào buổi sáng sớm sau trận bão, khi mặt trời vừa lên và lúc thuyền ra khơi. Vị trí quan sát: bên cái giếng Thanh Luân, trên thuyền cùng anh hùng Châu Hoà Mẫn, và từ xa nhìn đoàn thuyền ra biển.

Câu 5

Đề bài: Chỉ ra một câu văn thể hiện sự yêu mến đặc biệt của tác giả đối với Cô Tô trong đoạn văn từ Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô đến theo mùa sống ở đây.

Cách giải

Đoạn văn này không xuất hiện trong phần trích dẫn trang 113-114 được cung cấp. Câu hỏi này yêu cầu học sinh tham khảo phần khác của bài văn trong sách giáo khoa.

Ghi chú: Câu hỏi này cần đọc toàn bộ bài Cô Tô để trả lời chính xác. Học sinh cần tìm đoạn văn có tiêu đề hoặc bắt đầu bằng "Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô" trong sách.

Câu 6

Đề bài: Em hình dung khung cảnh Cô Tô sẽ như thế nào nếu thiếu chi tiết miêu tả giếng nước ngọt và hoạt động của con người quanh giếng?

Cách giải

Phân tích vai trò của chi tiết giếng nước:

Nếu thiếu chi tiết về giếng nước ngọt:

  • Mất đi nét đặc trưng của đảo (giếng nước ngọt giữa biển mặn)
  • Không thể hiện được sự kỳ diệu của thiên nhiên
  • Thiếu không gian sinh hoạt của người dân
  • Không thấy được nhịp sống thường ngày, bình dị
  • Mất đi hình ảnh con người gắn bó với thiên nhiên
Đáp án: Nếu thiếu chi tiết về giếng nước ngọt, Cô Tô sẽ chỉ còn là một hòn đảo hoang sơ, thiếu sinh khí. Giếng nước là trung tâm sinh hoạt, là nơi con người gặp gỡ, là biểu tượng cho sự sống. Không có giếng nước, bức tranh Cô Tô sẽ thiếu đi nét đẹp bình dị, gần gũi và thiếu đi sự gắn kết giữa con người với thiên nhiên.

Câu 7

Đề bài: Kết thúc bài kí Cô Tô là suy nghĩ của tác giả về hình ảnh chị Châu Hoà Mẫn: "Trống chị Châu Hoà Mẫn dịu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mồm cá cho lũ con lành". Cách kết thúc này cho thấy tình cảm của tác giả với biển và những con người bình dị trên đảo như thế nào?

Cách giải

Phân tích câu kết:

Hình ảnh "trống chị Châu Hoà Mẫn dịu con":

  • Thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng
  • Sự dịu dàng, yên bình sau bão tố

Hình ảnh "biển cả là mẹ hiền mồm cá cho lũ con lành":

  • So sánh biển với người mẹ hiền
  • Biển nuôi sống con người
  • Tình cảm gắn bó, biết ơn

Tình cảm của tác giả:

  • Yêu mến sâu sắc con người lao động
  • Ngưỡng mộ tinh thần anh hùng nhưng vẫn giữ được nét dịu dàng
  • Trân trọng mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên
  • Cảm động trước cuộc sống bình dị nhưng cao đẹp
Đáp án: Cách kết thúc này cho thấy tác giả có tình cảm sâu sắc, trân trọng với biển và con người Cô Tô. Hình ảnh "biển cả là mẹ hiền" thể hiện biển không chỉ là môi trường sống mà còn là người mẹ nuôi dưỡng. Chị Châu Hoà Mẫn vừa là anh hùng lao động vừa là người mẹ dịu dàng, tượng trưng cho vẻ đẹp toàn diện của con người lao động. Tác giả ngưỡng mộ và yêu mến sự hài hòa giữa sức mạnh và dịu dàng, giữa con người và thiên nhiên.

PHẦN 2: VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC

Hướng dẫn:

Trong Cô Tô, mặt trời lúc bình minh được ví như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy dặn. Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) chỉ ra ý nghĩa của hình ảnh so sánh đó (có thể liên hệ với cách miêu tả mặt trời lúc bình minh của các tác phẩm khác mà em biết).

💡 Gợi ý viết: - Phân tích hình ảnh "lòng đỏ quả trứng" - Nêu ý nghĩa: sự sống, sức sống mới, nguồn năng lượng - So sánh với cách miêu tả khác (nếu biết) - Liên hệ với không khí bài văn

PHẦN 3: THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT - BIỆN PHÁP TU TỪ

Bài tập 1

Đề bài: Đọc các câu sau và trả lời câu hỏi:

"Qua trùng hồng hào thẩm thẩm, và đường bệ đặt lên một mảm bạc đường kính mầm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hùng hồng."

Cách giải

Phân tích câu văn:

Câu văn này sử dụng nhiều biện pháp tu từ:

  1. So sánh: "đường bệ đặt lên một mảm bạc đường kính mầm rộng bằng cả một cái chân trời"
  • So sánh mặt trời với "mảm bạc" (đĩa bạc)
  • So sánh độ rộng với "cả một cái chân trời"
  1. Điệp từ: "hồng hào", "hùng hồng" - lặp lại âm "hồng" tạo nhịp điệu
  1. Hình ảnh màu sắc: "trùng hồng hào thẩm thẩm", "màu ngọc trai", "nước biển hùng hồng"
Đáp án: Câu văn sử dụng biện pháp so sánh (mặt trời như đĩa bạc rộng bằng chân trời), điệp từ (hồng hào, hùng hồng), và hình ảnh màu sắc phong phú để miêu tả cảnh bình minh tráng lệ trên biển.

🎯 Ghi nhớ: - Bài Cô Tô của Nguyễn Tuân là văn kí miêu tả thiên nhiên và con người - Tác giả sử dụng nhiều biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa - Ngôn ngữ giàu hình ảnh, màu sắc, âm thanh - Thể hiện tình yêu thiên nhiên và con người lao động
Chế độ đọc sách →