Giải Ngữ Văn 7 - Tập 2 trang 35
Lời giải chi tiết SGK Lớp 7 · Môn Ngữ Văn · Trang 35–36
Hai trang này gồm phần cuối bài đọc Cuộc chạm trán trên đại dương (câu 7, 8 và phần Viết kết nối với đọc), phần Thực hành tiếng Việt về mạch lạc và liên kết, và phần mở đầu Văn bản 2 Đường vào trung tâm vũ trụ. Mình sẽ tóm tắt lý thuyết và giải chi tiết từng bài nhé.
Tóm tắt lý thuyết: Mạch lạc và liên kết
Phần khung bên phải sách giải thích rất rõ:
- Mạch lạc là sự thống nhất về nội dung: các câu cùng nói về một đề tài, được sắp xếp theo một trình tự hợp lí (ví dụ từ xa đến gần) khiến người đọc dễ tiếp nhận, hiểu được ý nghĩa.
- Liên kết là sự kết nối về hình thức giữa các câu, thể hiện qua việc dùng:
- Từ ngữ lặp lại (phép lặp): bức tranh – tranh
- Từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa (phép thế): chú bé – chú
- Liên kết hình thức là phương tiện tạo nên mạch lạc nội dung. Hai yếu tố này gắn bó chặt với nhau.
Câu 7 (phần Cuộc chạm trán trên đại dương)
Đề: Đề tài của tác phẩm Hai vạn dặm dưới biển là gì? Hiện nay, đề tài đó có còn nhận được sự quan tâm đặc biệt của chúng ta nữa hay không? Vì sao?
Gợi ý trả lời:
- Đề tài của tác phẩm là khám phá, chinh phục đại dương và thế giới bí ẩn dưới lòng biển sâu, gắn với những tưởng tượng về khoa học – kĩ thuật (con tàu ngầm Nau-ti-lúx).
- Hiện nay đề tài này vẫn được quan tâm đặc biệt, vì:
- Đại dương chiếm phần lớn diện tích Trái Đất nhưng con người mới khám phá được rất ít.
- Biển cả chứa nguồn tài nguyên, năng lượng khổng lồ và nhiều bí ẩn về sinh vật, địa chất.
- Khoa học công nghệ ngày càng phát triển càng thôi thúc con người chinh phục đại dương.
Câu 8
Đề: Theo em, con người cần làm gì để vừa chinh phục đại dương vừa không làm ảnh hưởng đến môi trường biển?
Gợi ý trả lời:
- Khai thác tài nguyên biển hợp lí, có kế hoạch, tránh khai thác cạn kiệt.
- Không xả rác, chất thải, dầu loang ra biển; xử lí nước thải trước khi đổ ra biển.
- Bảo vệ các loài sinh vật biển, hạn chế đánh bắt tận diệt.
- Phát triển công nghệ thân thiện môi trường khi nghiên cứu, thám hiểm.
- Nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ biển.
Viết kết nối với đọc
Đề: Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) kể tiếp (theo tưởng tượng của em) về sự kiện diễn ra sau tình huống nhân vật "tôi", Công-xây và Nét Len bị kéo vào bên trong con tàu ngầm.
Đoạn văn tham khảo:
Sau khi bị kéo vào bên trong con tàu ngầm, chúng tôi được đưa qua một hành lang dài tối mịt. Một cánh cửa kim loại bật mở, và trước mắt chúng tôi là vị thuyền trưởng bí ẩn Nê-mô cùng cả một thế giới lộng lẫy chưa từng thấy. Ông lặng lẽ quan sát ba chúng tôi rồi cất tiếng mời dùng bữa tối thịnh soạn với những món ăn hoàn toàn được chế biến từ sản vật biển. Nét Len vẫn còn giận dữ, nhưng Công-xây và tôi thì không giấu nổi sự kinh ngạc và tò mò. Qua khung cửa kính khổng lồ, đại dương sâu thẳm hiện ra với muôn vàn loài cá rực rỡ sắc màu. Tôi chợt hiểu rằng cuộc phiêu lưu kì lạ nhất đời mình mới chỉ thực sự bắt đầu.
Bài 1 (Thực hành tiếng Việt)
Đề: Hãy phân tích tính mạch lạc của đoạn văn sau:
Sáu giờ, trời hửng sáng. Cùng với những tia sáng đầu tiên của bình minh, ánh điện của con cá thiết kình cũng phụt tắt. Tới bảy giờ, trời gần sáng rõ. Nhưng sương mù dày đặc đang trải ra ở chân trời, và dùng ống nhòm loại tốt nhất cũng chẳng thấy rõ vật gì. Có thể hình dung được chúng tôi thất vọng và giận dữ đến mức nào!
Lời giải:
Đoạn văn có tính mạch lạc cao, thể hiện ở:
- Thống nhất về chủ đề: Tất cả các câu đều xoay quanh việc quan sát con cá thiết kình vào buổi sáng và tâm trạng của những người trên tàu.
- Trình tự thời gian hợp lí: Các sự việc được sắp xếp theo dòng thời gian rõ ràng: Sáu giờ → tới bảy giờ. Theo thời gian, trời sáng dần lên.
- Quan hệ nguyên nhân – kết quả chặt chẽ: Trời sáng nhưng sương mù dày đặc → không nhìn rõ vật gì → dẫn đến tâm trạng thất vọng, giận dữ ở câu cuối.
→ Nhờ sự thống nhất về chủ đề và trình tự sắp xếp hợp lí, người đọc dễ dàng nắm bắt diễn biến và cảm xúc trong đoạn văn.
Bài 2
Đề: Hãy chỉ ra các phương tiện liên kết được sử dụng trong đoạn trích sau và nêu chức năng của chúng:
Cách chiếc tàu chiến một hải lí rưỡi, có một vật dài màu đen nổi lên khỏi mặt nước độ một mét. Đuôi nó quẫy mạnh làm nước biển sủi bọt. Chưa ai thấy đuôi cá quẫy sóng mạnh như vậy bao giờ! Con cá lượn hình vòng cung, để lại phía sau một vệt sáng lấp lánh. Chiếc tàu tiến lại gần. Tôi bắt đầu ngắm kĩ con cá. Báo cáo của tàu Hen-vơ-chi-a và San-nông hơi cường điệu kích thước của nó. Theo tôi, con cá không dài quá tám mươi mét...
Lời giải – các phương tiện liên kết:
| Phương tiện | Ví dụ trong đoạn | Chức năng |
|---|---|---|
| Phép lặp | con cá – con cá; chiếc tàu – chiếc tàu | Lặp lại từ ngữ để duy trì, nhấn mạnh đối tượng được nói tới, giúp các câu gắn kết |
| Phép thế (đại từ) | một vật dài màu đen → nó, con cá | Thay thế cho đối tượng đã nêu, tránh lặp từ, tạo sự liền mạch |
| Phép nối (quan hệ từ) | Nhưng, và, để lại phía sau | Nối các câu, thể hiện quan hệ về ý nghĩa giữa các câu |
→ Các phương tiện này giúp các câu trong đoạn văn liên kết chặt chẽ về hình thức, đồng thời làm rõ đối tượng được miêu tả là con cá (con quái vật), tạo nên mạch lạc nội dung.
Bài 3
Đề: Theo em, có thể sắp xếp các câu trong đoạn văn dưới đây theo một trật tự khác được không? Vì sao?
(1) Nhưng con cá cũng bơi với tốc độ y như vậy! (2) Trong suốt một giờ, chiếc tàu chiến không tiến gần thêm được một sải! (3) Thật là nhục nhã cho một trong những chiếc tàu chạy nhanh nhất của hạm đội Mỹ! (4) Anh em thủy thủ tức giận điên người. (5) Họ nguyền rủa quái vật, nhưng nó vẫn phớt lờ.
Lời giải:
Không thể sắp xếp theo một trật tự khác, vì:
- Các câu được sắp xếp theo quan hệ logic nguyên nhân – kết quả rất chặt chẽ:
- (1) Con cá bơi nhanh ngang tàu → (2) Suốt một giờ tàu không đuổi kịp → (3) Điều đó thật nhục nhã → (4) Thủy thủ tức giận → (5) Họ nguyền rủa quái vật.
- Có các phương tiện liên kết ràng buộc trật tự: từ Nhưng (câu 1) gắn với sự việc trước đó; đại từ Họ (câu 5) thay cho anh em thủy thủ (câu 4) nên câu 5 phải đứng sau câu 4.
- Nếu thay đổi trật tự, mạch suy luận và cảm xúc sẽ bị đứt gãy, đoạn văn mất tính mạch lạc.
Bài 4
Đề: Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) kể lại một tình huống trong Cuộc chạm trán trên đại dương. Thuyết minh ngắn gọn về mạch lạc và liên kết của đoạn văn.
Đoạn văn tham khảo:
Khi con tàu chiến tiến gần con quái vật, tất cả thủy thủ đều hồi hộp theo dõi. Nét Len giương khẩu súng phóng lao, chờ đợi thời cơ tốt nhất để ra tay. Bỗng nhiên, con vật khổng lồ quẫy mạnh khiến nước biển bắn tung tóe, rồi lao đi với tốc độ kinh hoàng. Chiếc tàu đuổi theo nhưng không tài nào bắt kịp nó. Cuối cùng, một dòng nước mạnh phun ra hất văng cả ba chúng tôi xuống biển. Đó chính là khoảnh khắc mở đầu cho cuộc phiêu lưu kì lạ dưới đáy đại dương.
Thuyết minh:
- Mạch lạc: Các câu đều xoay quanh tình huống chạm trán con quái vật, được kể theo trình tự thời gian (chuẩn bị → con vật xuất hiện → đuổi theo → bị hất xuống biển), liền mạch và dễ hiểu.
- Liên kết: Dùng phép lặp (con vật, chiếc tàu), phép thế (con quái vật → nó), phép nối (Bỗng nhiên, nhưng, Cuối cùng) để gắn kết các câu chặt chẽ về hình thức.
Văn bản 2: Đường vào trung tâm vũ trụ – phần Trước khi đọc
Câu 1
Đề: Nêu hiểu biết của em về hệ Mặt Trời.
Gợi ý:
- Hệ Mặt Trời là một hệ hành tinh có Mặt Trời ở trung tâm.
- Gồm 8 hành tinh quay quanh Mặt Trời: Thủy tinh, Kim tinh, Trái Đất, Hỏa tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Thiên Vương tinh, Hải Vương tinh.
- Ngoài ra còn có các vệ tinh (như Mặt Trăng), tiểu hành tinh, sao chổi, thiên thạch...
- Trái Đất là hành tinh thứ ba tính từ Mặt Trời và là nơi duy nhất (đã biết) có sự sống.
Câu 2
Đề: Tìm đọc và trình bày trước lớp một vài thông tin cơ bản về người đầu tiên trên thế giới thực hiện chuyến bay vào vũ trụ.
Gợi ý:
- Người đầu tiên bay vào vũ trụ là Yuri Gagarin (Liên Xô).
- Ngày 12/4/1961, ông đã bay vòng quanh Trái Đất trên con tàu vũ trụ Phương Đông 1 (Vostok 1) trong khoảng 108 phút.
- Sự kiện này đánh dấu cột mốc lịch sử của loài người trong công cuộc chinh phục vũ trụ.
