Giải Ngữ Văn 7 - Tập 2 trang 90

Lời giải chi tiết SGK Lớp 7 · Môn Ngữ Văn · Trang 90–91

Một lưu ý nhỏ trước khi bắt đầu: hai ảnh em gửi thực ra là trang 89 và 90 (góc dưới có ghi số trang). Cô sẽ giải đầy đủ toàn bộ nội dung hai trang này để em không thiếu phần nào nhé.

Tóm tắt phần cuối văn bản "Bản tin về hoa anh đào" (trang 89)

Đoạn cuối kể về việc nhân vật "anh bạn nhà báo" cuối cùng đã vượt qua những rào cản trong suy nghĩ để mạnh dạn viết về hoa đào – biến cảm nhận tinh tế về cỏ hoa thành thông điệp đáng chia sẻ. Tác giả khẳng định bản tin về hoa đào tuy nhỏ nhưng vô cùng ý nghĩa, vì nó truyền đi một lối nghĩ mới: thiên nhiên, cỏ hoa cũng cần được nâng niu, truyền thông một cách tự nhiên và nghệ thuật. Khép lại, tác giả bày tỏ mong ước về một ngày con người bớt chú ý đến những rối ren xã hội mà quan tâm nhiều hơn đến vẻ đẹp của thiên nhiên, để tâm hồn được thanh lọc, tốt lành.

Bài: Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi (trang 89)

Câu 1

Đề: Theo em, nhan đề Bản tin về hoa anh đào có thể gợi lên ở người đọc những suy đoán gì về nội dung của bài tản văn?

Gợi ý trả lời:

  • Nhan đề gợi cho người đọc nghĩ đến một bài viết mang tính thông tin, thời sự (vì có từ "bản tin"), nhưng đối tượng lại là "hoa anh đào" – một loài hoa, một vẻ đẹp thiên nhiên.
  • Sự kết hợp lạ giữa "bản tin" (vốn dành cho tin tức chính trị, xã hội) với "hoa anh đào" khiến người đọc tò mò: phải chăng tác giả muốn nói về việc đưa tin về thiên nhiên, cỏ hoa.
  • Người đọc có thể suy đoán bài viết bàn về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, về cách con người quan tâm, trân trọng vẻ đẹp của cây cỏ.

Câu 2

Đề: Liệt kê những từ ngữ thể hiện trực tiếp ý kiến đánh giá của tác giả đối với các bản tin nhỏ mà người bạn nhà báo đã viết về hoa anh đào. Em nhận xét như thế nào về ý kiến đánh giá đó?

Gợi ý trả lời:

Các từ ngữ thể hiện trực tiếp đánh giá của tác giả:

  • "vô cùng ý nghĩa"
  • "ý nghĩa trên bình diện tư duy trong nghề báo"
  • "lớn lao hơn"
  • "truyền đi một lối nghĩ khác"

Nhận xét:

  • Đây là những đánh giá rất tích cực, trân trọng, cho thấy tác giả đặc biệt coi trọng giá trị tinh thần của những bản tin nhỏ về hoa đào.
  • Ý kiến đánh giá ấy không chỉ dừng ở khía cạnh nghề nghiệp (báo chí) mà còn nâng lên tầm tư tưởng, văn hóa: nhắc nhở con người biết nâng niu thiên nhiên. Đó là cái nhìn sâu sắc, nhân văn và đầy tình yêu với thiên nhiên.

Câu 3

Đề: Vì sao tác giả lại cho rằng để viết một bản tin về hoa anh đào, người bạn của mình đã phải vượt qua nhiều "khó khăn", "chướng ngại"? Những "khó khăn", "chướng ngại" được nêu lên đó cho biết gì về cách sống và thái độ ứng xử với thiên nhiên của con người trong cuộc sống hiện đại?

Gợi ý trả lời:

Vì sao phải vượt qua "khó khăn", "chướng ngại":

  • Trong nghề báo, người ta thường ưu tiên những tin tức nóng hổi về chính trị, xã hội, kinh tế. Một bản tin về hoa đào dễ bị xem là nhỏ nhặt, không "đáng" đưa lên báo.
  • Người bạn phải vượt qua định kiến ấy, phải có quyết định "táo bạo" để buộc hiện thực về hoa đào "được chấp nhận bình đẳng với mọi thông tin khác trên đời".

Những khó khăn đó cho thấy về cách sống hiện đại:

  • Con người trong cuộc sống hiện đại thường mải mê với những vấn đề "lớn", với guồng quay bận rộn mà ít quan tâm, thờ ơ với vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên.
  • Thiên nhiên, cỏ hoa bị xem nhẹ, chưa được đặt đúng vị trí trong đời sống tinh thần. Qua đó, tác giả nhắc nhở con người cần thay đổi thái độ: biết trân trọng, nâng niu thiên nhiên hơn.

Câu 4

Đề: Hãy làm rõ sự đồng điệu về tâm hồn giữa tác giả và nhân vật được nói tới trong bài tản văn.

Gợi ý trả lời:

  • Nhân vật người bạn nhà báo và tác giả đều có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cỏ hoa.
  • Cả hai đều trân trọng những điều nhỏ bé, lặng lẽ (hoa đào, cỏ hoa Đà Lạt) và cho rằng chúng xứng đáng được quan tâm, truyền thông một cách nghệ thuật.
  • Tác giả thấu hiểu, đồng cảm với quyết định "táo bạo" của người bạn; chính sự đồng điệu ấy khiến bản tin nhỏ về hoa đào trở nên "vô cùng ý nghĩa" với tác giả. Họ gặp nhau ở tình yêu thiên nhiên và mong muốn lan tỏa lối sống biết nâng niu cái đẹp.

Câu 5

Đề: Nêu khái quát thông điệp chính mà tác giả muốn gửi tới người đọc qua tản văn Bản tin về hoa anh đào.

Gợi ý trả lời:

Thông điệp chính:

  • Hãy biết yêu thương, trân trọng và nâng niu thiên nhiên, cỏ hoa quanh ta.
  • Trong cuộc sống hiện đại bận rộn, con người cần dành sự quan tâm cho vẻ đẹp bình dị của thiên nhiên, bởi đó là cách để tâm hồn được nuôi dưỡng, thanh lọc, trở nên tốt lành hơn.

Câu 6

Đề: Nêu suy nghĩ của em về điều mong muốn mà tác giả thể hiện ở đoạn cuối văn bản.

Gợi ý trả lời:

  • Ở đoạn cuối, tác giả mong ước một ngày những bản tin về sự rối ren, hỗn loạn của xã hội sẽ bớt đi, thay vào đó là thông tin về các loài hoa, mùa hoa của thành phố mình yêu.
  • Đây là một mong muốn đẹp, thể hiện tâm hồn lãng mạn, yêu thiên nhiên và khát vọng về một cuộc sống thanh bình, trong lành.
  • Em có thể bày tỏ: tuy mong muốn ấy hơi lí tưởng (vì thông tin xã hội vẫn cần thiết), nhưng nó nhắc nhở chúng ta đừng quên dành chỗ cho cái đẹp, cho thiên nhiên, để tâm hồn không bị chai sạn giữa nhịp sống hối hả. Đó là một thông điệp nhân văn và đáng suy ngẫm.

Bài: Thực hành tiếng Việt (trang 90)

Phần lý thuyết cần nhớ – Cách xác định nhanh nghĩa của từ có yếu tố Hán Việt:

  1. Tách từ Hán Việt thành các yếu tố riêng (ví dụ: thuyết minhthuyếtminh).
  2. Tập hợp những từ đã biết có chứa cùng yếu tố, xếp thành nhóm (nhóm thuyết: thuyết phục, thuyết giảng, lí thuyết...; nhóm minh: minh bạch, minh mẫn, tường minh...).
  3. Dựa vào nghĩa chung của các từ trong nhóm để suy ra nghĩa từng yếu tố, rồi ghép lại tìm nghĩa của từ (thuyết → nói; minh → rõ ràng; thuyết minh → nói rõ ràng ra về một vấn đề).

Câu 1

Đề: Em hiểu như thế nào về nghĩa của các yếu tố Hán Việt tạo nên từ tín ngưỡng được dùng trong văn bản Lễ rửa làng của người Lô Lô? Theo em, khi chưa có sẵn từ điển trong tay, ta có thể suy đoán nghĩa của các yếu tố đó và nghĩa của từ chứa đựng chúng theo cách nào?

Gợi ý trả lời:

Nghĩa các yếu tố trong từ tín ngưỡng:

  • Tín: tin, lòng tin (các từ cùng yếu tố: tin tưởng, tín nhiệm, tín đồ, thành tín...).
  • Ngưỡng: ngưỡng mộ, tôn kính, hướng về (các từ cùng yếu tố: ngưỡng mộ, ngưỡng vọng, kính ngưỡng...).
  • Tín ngưỡng: niềm tin và sự tôn kính của con người vào một điều gì đó thiêng liêng (thần linh, tôn giáo...).

Cách suy đoán khi chưa có từ điển:

  • Tách từ thành các yếu tố riêng.
  • Tập hợp những từ quen thuộc có chứa từng yếu tố, xếp thành nhóm.
  • Dựa vào nghĩa chung của các từ trong nhóm để suy ra nghĩa của yếu tố, rồi ghép lại để hiểu nghĩa cả từ.

Câu 2

Đề: Bản sắc, ưu tư, truyền thông là các từ có yếu tố Hán Việt. Lập bảng theo mẫu được gợi ý để xác định nghĩa của chúng.

Gợi ý hoàn thành bảng:

Từ cần xác định nghĩaYếu tốNhững từ khác có yếu tố Hán Việt tương tựNghĩa của từng yếu tốNghĩa chung của từ
bản sắcbảnbản chất, bản lĩnh, bản quán, nguyên bản...bản: gốc, cái vốn có, cơ bảnbản sắc: tính chất, màu sắc riêng vốn có, làm nên nét đặc trưng riêng của một sự vật
sắcsắc thái, sắc độ, sắc tố...sắc: màu sắc, vẻ, dáng vẻ
ưu tưưuưu phiền, ưu sầu, ưu ái, lo âu...ưu: lo lắng, buồn phiềnưu tư: lo nghĩ, suy nghĩ buồn phiền trong lòng
tư duy, tư tưởng, suy tư, tư lự...tư: suy nghĩ, nghĩ ngợi
truyền thôngtruyềntruyền tin, truyền đạt, truyền bá, lưu truyền...truyền: trao đi, lan rộng ratruyền thông: truyền đạt, lan tỏa thông tin rộng rãi tới nhiều người
thôngthông tin, thông báo, thông điệp, thông cáo...thông: tin tức, thông suốt

Một mẹo nhỏ cô muốn nhắn em: khi gặp từ Hán Việt lạ, đừng vội tra ngay. Em hãy thử "gọi" ra vài từ quen thuộc cùng chứa yếu tố đó, em sẽ ngạc nhiên vì mình đoán đúng nghĩa nhiều hơn mình tưởng đấy.

Nếu em gửi đúng trang 91 (ảnh còn thiếu), cô sẽ giải tiếp phần còn lại của bài Thực hành tiếng Việt nhé.

Chế độ đọc sách →