Giải Ngữ Văn 7 - Tập 1 trang 65
Lời giải chi tiết SGK Lớp 7 · Môn Ngữ Văn · Trang 65–66
Hai trang này gồm ba phần: phần trả lời câu hỏi cho văn bản "Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ", phần Thực hành tiếng Việt về Số từ, và phần mở đầu Văn bản 2 "Người thầy đầu tiên". Mình sẽ giải lần lượt nhé.
Phần 1: Trả lời câu hỏi văn bản "Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ"
Câu 1
Đề: Nhân vật "tôi" đã được bố dạy cho cách "nhìn" đặc biệt như thế nào để nhận ra những bông hoa trong vườn?
Trả lời:
- Bố bảo nhân vật "tôi" nhắm mắt lại, rồi dẫn đi chạm tay vào từng bông hoa và đoán xem đó là hoa gì.
- Lúc đầu "tôi" đoán sai nhiều, nhưng bố kiên nhẫn tập luyện mỗi ngày. Dần dần "tôi" chỉ cần chạm tay là đoán đúng tên hoa.
- Sau đó bố nâng cấp: chỉ cần ngửi mùi hương là đoán được tên hoa và khoảng cách của bông hoa đó.
→ Đây là cách "nhìn" bằng các giác quan khác (xúc giác, khứu giác) thay cho mắt, giúp "tôi" cảm nhận khu vườn một cách tinh tế.
Câu 2
Đề: Nhân vật người bố chủ yếu được miêu tả qua lời kể của nhân vật nào? Việc lựa chọn người kể chuyện như vậy có tác dụng gì?
Trả lời:
- Người bố được miêu tả chủ yếu qua lời kể của nhân vật "tôi" – người con (ngôi thứ nhất).
- Tác dụng:
- Làm cho câu chuyện chân thật, gần gũi, giàu cảm xúc vì đó là cảm nhận trực tiếp của người con dành cho bố.
- Thể hiện được tình cảm yêu thương, kính trọng, ngưỡng mộ của "tôi" với bố một cách tự nhiên.
- Giúp người đọc cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn người bố qua đôi mắt trong trẻo của trẻ thơ.
Câu 3
Đề: Nêu cảm nhận về tính cách của nhân vật người bố. Chỉ ra một số chi tiết giúp em có những cảm nhận đó.
Trả lời:
Người bố là người:
| Tính cách | Chi tiết minh chứng |
|---|---|
| Yêu thương con, kiên nhẫn | Dạy con cách cảm nhận hoa bằng tay, bằng mùi hương; tập luyện cùng con mỗi ngày |
| Tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên | Trồng và chăm sóc khu vườn, dạy con cảm nhận cái đẹp của hoa lá |
| Nhân hậu, dũng cảm | Lao xuống cứu thằng Tí khi nghe tiếng kêu cứu |
| Sống sâu sắc, giàu triết lí | Những lời bố nói về "món quà", về cách trân trọng con người và cuộc sống |
→ Người bố hiện lên là một người cha tuyệt vời: yêu con, yêu thiên nhiên, nhân ái và có cách giáo dục con đầy tinh tế.
Câu 4
Đề: Vì sao nhân vật "tôi" có thể biết chính xác tiếng kêu cứu của bạn Tí vang lên từ đâu? Chi tiết này có mối liên hệ với chi tiết nào trước đó?
Trả lời:
- "Tôi" biết chính xác tiếng kêu cứu vang lên từ đâu vì đã được bố rèn luyện khả năng định vị âm thanh và phương hướng khi nhắm mắt.
- Chi tiết này liên hệ với chi tiết trước đó: bố dạy "tôi" nhắm mắt rồi đoán xem hoa nở ở đâu, ở khoảng cách bao xa chỉ bằng cách lắng nghe và ngửi mùi hương.
→ Nhờ quá trình luyện tập ấy mà "tôi" nghe tiếng kêu là biết ngay Tí đang ở khúc sông nào, kịp thời báo cho bố ra cứu.
Câu 5
Đề: Liệt kê những chi tiết tiêu biểu miêu tả cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật "tôi" về bố và bạn Tí. Những chi tiết đó cho thấy đặc điểm tính cách nào của nhân vật "tôi"?
Trả lời:
Về bố:
- Cảm thấy bố là người tuyệt vời, yêu thương và biết ơn bố.
- Tự hào, ngưỡng mộ trước những bài học bố dạy.
Về bạn Tí:
- Yêu quý Tí, thích những trái ổi Tí hái cho.
- Lo lắng, hốt hoảng khi Tí gặp nguy hiểm.
- Coi Tí như một "món quà" quý.
→ Những chi tiết này cho thấy nhân vật "tôi" là cậu bé giàu tình cảm, nhạy cảm, biết yêu thương, trân trọng mọi người và biết ơn những điều tốt đẹp xung quanh.
Câu 6
Đề: Khi "vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ", nhân vật "tôi" đã phát hiện được những "bí mật" gì? Theo em, những "bí mật" ấy mang lại điều gì cho cuộc sống hằng ngày của nhân vật?
Trả lời:
Những "bí mật" mà "tôi" phát hiện:
- Có thể nhận ra tên từng loài hoa chỉ bằng cách chạm tay hay ngửi hương.
- Có thể đoán được khoảng cách, vị trí của bông hoa.
- Cảm nhận được vẻ đẹp của khu vườn bằng nhiều giác quan, không chỉ bằng mắt.
Những "bí mật" ấy mang lại:
- Giúp "tôi" yêu thiên nhiên hơn, sống tinh tế và biết quan sát, cảm nhận sâu sắc.
- Mở ra một thế giới phong phú, kì diệu ngay trong khu vườn quen thuộc.
- Bồi đắp tâm hồn, giúp "tôi" trân trọng những điều giản dị, bình thường trong cuộc sống.
Câu 7
Đề: Em có đồng tình với những điều nhân vật người bố nói về các "món quà" không? Vì sao?
Gợi ý trả lời:
Em đồng tình với những điều người bố nói. Vì:
- Người bố cho rằng món quà nào cũng đẹp và đáng quý, quan trọng là tình cảm, tấm lòng của người tặng chứ không phải giá trị vật chất.
- Khi nhận quà, ta phải biết trân trọng, biết ơn và nâng niu tình cảm gửi gắm trong đó.
- Đây là quan niệm đúng đắn, nhân văn, dạy ta sống tình nghĩa và biết yêu thương con người.
(Em có thể nêu ý kiến riêng nhưng cần lập luận hợp lí.)
Viết kết nối với đọc
Đề: Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) về một "món quà" em đặc biệt yêu thích.
Đoạn văn tham khảo:
Trong tất cả những món quà em từng được nhận, em yêu thích nhất là chiếc bút máy mà bà ngoại tặng nhân ngày khai trường. Đó là một chiếc bút giản dị, vỏ màu xanh, ngòi bút trơn và viết rất êm tay. Tuy không phải món quà đắt tiền, nhưng với em nó vô cùng quý giá. Mỗi lần cầm bút viết bài, em như thấy hơi ấm bàn tay của bà, nhớ lời bà dặn phải chăm ngoan, học giỏi. Chiếc bút đã theo em qua bao trang vở, ghi lại biết bao điểm mười. Em luôn giữ gìn nó thật cẩn thận như giữ gìn tình yêu thương của bà. Với em, đó không chỉ là một món quà mà còn là một kỉ niệm đẹp không bao giờ quên.
Phần 2: Thực hành tiếng Việt – SỐ TỪ
Tóm tắt lý thuyết:
- Số từ chia làm hai nhóm:
- Số từ chỉ số lượng: gồm số lượng xác định (một, hai, ba…) và số lượng ước chừng (vài, dăm, mươi, dăm bảy, ba bốn…). Thường đứng trước danh từ.
- Số từ chỉ thứ tự: kết hợp với thứ, hạng, loại, số…, đứng sau danh từ trung tâm (bàn thứ nhất).
- Cần phân biệt số từ với danh từ chỉ đơn vị gắn với ý nghĩa số lượng (đôi, chục, tá…). Những danh từ này kết hợp được với số từ ở trước và các từ ấy, này… ở sau (ba đôi ấy, hai chục này), còn số từ thì không.
Bài 1
Đề: Tìm số từ trong các câu sau.
| Câu | Số từ |
|---|---|
| a. Buổi chiều ra đồng về, bố thường dẫn tôi ra vườn, hai bố con thi nhau tưới. | hai |
| b. Bố làm cho tôi một bình tưới nhỏ bằng cái thùng đựng sơn rất vừa tay. | một |
| c. Cách đây khoảng ba chục mét, hướng này! | ba (chục là danh từ chỉ đơn vị) |
Bài 2
Đề: Tìm số từ chỉ số lượng ước chừng trong các câu sau.
| Câu | Số từ ước chừng |
|---|---|
| a. Bố có thể lặn một hơi dài đến mấy phút. | mấy |
| b. Tôi còn về vài ngày nữa là khác. | vài |
| c. Tôi nghe nói bà về đây một hai hôm rồi đi. | một hai |
Tìm thêm ba số từ chỉ số lượng ước chừng khác và đặt câu:
- dăm: Nhà em chỉ cách trường có dăm bước chân.
- mươi: Cả nhóm em chừng mươi người cùng đi cắm trại.
- vài ba: Em đọc vài ba cuốn sách mỗi tuần.
Bài 3
Đề: Trong câu "Nó là thằng Tí, con bà Sáu.", từ Sáu có phải là số từ không? Vì sao từ này được viết hoa?
Trả lời:
- Từ Sáu ở đây không phải là số từ.
- Đây là danh từ riêng – tên gọi của một người (bà Sáu). Vì là tên riêng nên được viết hoa.
→ Tuy có hình thức giống số từ "sáu", nhưng nó dùng để gọi tên người, không chỉ số lượng.
Bài 4
Đề: Trong câu "Bụng nó đầy nước, bố phải nắm ngược hai chân dốc xuống như làm xiếc.", có số từ hai kết hợp với chân (hai chân). Bên cạnh hai chân còn có đôi chân. Hãy tìm thêm những trường hợp tương tự và cho biết sự khác nhau về nghĩa giữa cụm từ có số từ hai và cụm từ có danh từ đơn vị đôi.
Trả lời:
Các trường hợp tương tự:
| Cụm có số từ hai | Cụm có danh từ đơn vị đôi |
|---|---|
| hai tay | đôi tay |
| hai mắt | đôi mắt |
| hai bàn tay | đôi bàn tay |
| hai dép | đôi dép |
| hai đũa | đôi đũa |
Sự khác nhau về nghĩa:
- Cụm có số từ hai: chỉ rõ số lượng là 2 đơn vị riêng lẻ, nhấn mạnh số đếm (hai chân = 2 cái chân).
- Cụm có danh từ đơn vị đôi: chỉ một cặp hai vật đi liền nhau, gắn bó thành một thể thống nhất, mang sắc thái biểu cảm, gợi cảm hơn (đôi chân = cặp chân như một chỉnh thể).
Bài 5
Đề: Có những số từ vốn chỉ số lượng xác định nhưng trong một số trường hợp lại mang nghĩa không xác định. Ví dụ: Một nghề cho chín còn hơn chín nghề. Từ chín thứ hai mang nghĩa biểu trưng là nhiều (nhiều nghề). Hãy tìm một thành ngữ có số từ được dùng theo cách như vậy và giải thích nghĩa.
Trả lời:
Một số thành ngữ tham khảo:
- Ba chìm bảy nổi: chỉ cuộc đời, số phận long đong, vất vả, lận đận nhiều phen (ba, bảy chỉ "nhiều", không phải số lượng cụ thể).
- Trăm hay không bằng tay quen: trăm điều biết lí thuyết cũng không bằng việc làm quen tay (trăm = rất nhiều).
- Nghìn cân treo sợi tóc: chỉ tình thế cực kì nguy hiểm, mong manh (nghìn = mức độ rất nặng, rất lớn).
Ví dụ giải thích "Ba chìm bảy nổi": ý nói cuộc đời con người trải qua nhiều thăng trầm, gian truân, hết lúc chìm lại lúc nổi. Số ba và bảy ở đây không chỉ số lượng chính xác mà mang nghĩa biểu trưng cho "nhiều lần, liên tiếp".
Phần 3: Văn bản 2 – Người thầy đầu tiên (Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp)
Trước khi đọc:
Đề: Hãy kể ngắn gọn về một thầy, cô giáo mà em đặc biệt yêu quý.
Gợi ý: Em chọn một thầy/cô giáo và kể về:
- Tên thầy/cô, dạy môn gì.
- Đặc điểm đáng nhớ (tận tâm, hiền hậu, nghiêm khắc mà thương trò…).
- Một kỉ niệm khiến em yêu quý và biết ơn thầy/cô.
Phần đọc văn bản:
Đoạn mở đầu giới thiệu người kể chuyện nhận được bức điện từ làng mời về dự lễ khánh thành ngôi trường mới do nông trường xây dựng.
Trả lời ô "Nhận biết – Người kể chuyện ở đây là ai?":
- Người kể chuyện ở đoạn này xưng "tôi" – là người họa sĩ đồng hương được bà viện sĩ An-tư-nai nhờ kể lại câu chuyện về thầy Đuy-sen.
Bối cảnh truyện (từ chú thích): Truyện lấy bối cảnh vùng quê miền núi lạc hậu ở Cư-rơ-gư-dơ-xtan đầu thế kỉ XX. An-tư-nai là cô bé mồ côi bị đối xử tàn nhẫn, được thầy Đuy-sen kiên trì dạy chữ và giúp đỡ để có cơ hội lên thành phố học hành. Mấy chục năm sau, An-tư-nai trở thành viện sĩ, về thăm làng và gặp lại người thầy đầu tiên trong một tình huống éo le, rồi viết thư nhờ người họa sĩ kể lại câu chuyện như một hành động chuộc lỗi.
Chúc em học tốt nhé. Nếu cần mình giải thêm phần đọc hiểu văn bản "Người thầy đầu tiên" ở các trang sau, cứ gửi ảnh tiếp cho mình.
