Giải Khoa Học Tự nhiên 8 trang 107
Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Khoa Há»c Tá»± NhiĂªn · Trang 107–108
Mình thấy hai trang ảnh em gửi là trang 105 – 106 (mở đầu Bài 26), chứ không phải 107 – 108 như đề ghi. Mình sẽ giải đúng theo nội dung có trong ảnh nhé.
Tóm tắt lý thuyết
Đây là phần mở đầu Chương VI – Nhiệt, Bài 26: Năng lượng nhiệt và nội năng.
I – Một số tính chất của phân tử, nguyên tử:
- Nhiệt độ của vật càng cao thì các phân tử, nguyên tử cấu tạo nên vật chuyển động hỗn loạn càng nhanh.
- Giữa các phân tử, nguyên tử có lực hút và lực đẩy, gọi là lực tương tác phân tử, nguyên tử.
- Thí nghiệm Brown (1827): các hạt phấn hoa trong nước chuyển động hỗn loạn không ngừng vì bị các phân tử nước chuyển động va chạm vào. Nước càng nóng, các hạt phấn hoa chuyển động càng nhanh.
II – Khái niệm năng lượng nhiệt:
- Chuyển động hỗn loạn không ngừng của các phân tử, nguyên tử gọi là chuyển động nhiệt.
- Năng lượng vật có được nhờ chuyển động nhiệt gọi là năng lượng nhiệt (gọi tắt là nhiệt năng).
- Mọi vật đều được cấu tạo từ phân tử, nguyên tử chuyển động không ngừng nên mọi vật đều có nhiệt năng. Nhiệt độ tăng thì nhiệt năng tăng và ngược lại.
Câu hỏi mở đầu
Đề: Ngay từ lớp 6, các em đã được làm quen với năng lượng nhiệt. Theo em, năng lượng nhiệt là gì và tại sao mọi vật đều luôn có năng lượng này?
Trả lời:
- Năng lượng nhiệt (nhiệt năng) là năng lượng mà vật có được nhờ chuyển động nhiệt – tức là chuyển động hỗn loạn không ngừng của các phân tử, nguyên tử cấu tạo nên vật.
- Mọi vật luôn có năng lượng này vì mọi vật đều được cấu tạo từ các phân tử, nguyên tử, mà các hạt này luôn chuyển động hỗn loạn không ngừng ở mọi nhiệt độ. Chừng nào còn chuyển động thì vật còn có nhiệt năng, nên mọi vật đều luôn có nhiệt năng.
Câu hỏi (?) trang 106 – Khuếch tán mùi nước hoa
Đề: Ở nhiệt độ trong phòng, các phân tử trong không khí có thể chuyển động với tốc độ từ hàng trăm tới hàng nghìn m/s. Tại sao khi mở một lọ nước hoa ở đầu lớp thì phải một lúc sau, người ở cuối lớp mới ngửi thấy mùi thơm?
Trả lời:
- Tuy mỗi phân tử chuyển động rất nhanh (hàng trăm đến hàng nghìn m/s), nhưng chúng không bay thẳng một mạch từ đầu lớp đến cuối lớp.
- Trong không khí có rất nhiều phân tử khí (oxygen, nitrogen…). Phân tử nước hoa liên tục va chạm vào các phân tử này nên đổi hướng liên tục, đi theo đường gấp khúc, zíc zắc (giống đường đi của hạt phấn hoa trong Hình 26.2).
- Vì đường đi quanh co như vậy nên quãng đường thực tế rất dài, các phân tử mùi thơm phải mất một thời gian mới lan tới cuối lớp. Do đó người ở cuối lớp phải đợi một lúc sau mới ngửi thấy mùi.
Hoạt động trang 106
Câu 1. Mô tả, giải thích và thực hiện hai cách khác nhau để làm tăng năng lượng nhiệt của hai bàn tay mình.
Trả lời – hai cách khác nhau:
| Cách | Thực hiện | Giải thích |
|---|---|---|
| Cách 1: Cọ xát (thực hiện công) | Xoa, chà mạnh hai lòng bàn tay vào nhau | Lực ma sát sinh công làm các phân tử ở bàn tay chuyển động nhanh hơn → nhiệt năng tăng, tay nóng lên |
| Cách 2: Truyền nhiệt | Hơ tay gần ngọn lửa, áp tay vào cốc nước nóng hoặc phơi tay dưới nắng | Nhiệt từ vật nóng truyền sang tay, làm các phân tử ở tay chuyển động nhanh hơn → nhiệt năng tăng |
Nhận xét: Có hai cách làm tăng nhiệt năng của một vật là thực hiện công (cọ xát) và truyền nhiệt.
Câu 2. Tìm ví dụ thực tế về sự chuyển hoá từ nhiệt năng sang các dạng năng lượng khác và ngược lại.
Trả lời:
Nhiệt năng → dạng năng lượng khác:
- Nồi hơi, tua bin nhiệt điện: nhiệt năng của hơi nước nóng làm tua bin quay → chuyển thành cơ năng rồi thành điện năng.
- Động cơ ô tô, xe máy: nhiệt năng do đốt nhiên liệu chuyển thành cơ năng làm xe chạy.
- Đun nước sôi đậy nắp kín: hơi nước nóng đẩy bật nắp lên (nhiệt năng → cơ năng).
Dạng năng lượng khác → nhiệt năng:
- Cọ xát hai bàn tay: cơ năng → nhiệt năng (tay nóng lên).
- Bếp điện, bàn là, lò sưởi điện: điện năng → nhiệt năng.
- Phanh xe đạp, xe máy: má phanh ma sát với bánh xe, cơ năng → nhiệt năng (vành xe nóng lên).
- Đốt củi, đốt than: hoá năng → nhiệt năng.
Nếu em cần mình giải tiếp đúng trang 107 – 108, em chụp thêm hai trang đó rồi gửi cho mình nhé.
