Giải Ngữ Văn 8 - Tập 2 trang 57
Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 57–58
Tóm tắt phần lý thuyết
Hai trang này gồm hai mảng nội dung chính:
- Bài Nói và nghe: Thảo luận về một vấn đề trong đời sống (gợi ra từ tác phẩm văn học), gồm 3 bước: Trước khi thảo luận – Thảo luận – Đánh giá.
- Phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc của cả bài học (cụm văn bản Đồng chí, Lá đỏ, Những ngôi sao xa xôi, Lặng lẽ Sa Pa...).
Những ý cần nhớ về kỹ năng thảo luận:
- Chuẩn bị kỹ: đọc lại tác phẩm, xác định ý, sắp xếp hợp lí, ghi câu hay để trích dẫn.
- Người nói: trình bày rõ ràng, có lí lẽ và bằng chứng, kết nối với mạch chung, tôn trọng ý kiến trái chiều.
- Người nghe: lắng nghe, ghi chép, đặt câu hỏi, chuẩn bị ý kiến, giữ thái độ thân thiện.
- Đánh giá dựa trên nội dung, cách tổ chức và mức độ giải quyết vấn đề.
Bài 1: Vẽ sơ đồ tư duy về Đồng chí và Lá đỏ
Đề bài: Vẽ sơ đồ tư duy trình bày đặc điểm nội dung và nghệ thuật của hai bài thơ Đồng chí và Lá đỏ.
Cô gợi ý nội dung để em đưa vào sơ đồ tư duy (em vẽ thành các nhánh từ tên bài thơ ở giữa):
Đồng chí (Chính Hữu)
| Phương diện | Đặc điểm |
|---|---|
| Nội dung | Ca ngợi tình đồng chí, đồng đội keo sơn của những người lính cách mạng thời chống Pháp; họ cùng chung cảnh ngộ (nông dân nghèo), chung lí tưởng, chia sẻ gian khổ, bệnh tật, thiếu thốn. |
| Nghệ thuật | Thể thơ tự do, hình ảnh chân thực mộc mạc, ngôn ngữ giản dị, cô đọng; hình ảnh kết "Đầu súng trăng treo" giàu chất lãng mạn và biểu tượng. |
Lá đỏ (Nguyễn Đình Thi)
| Phương diện | Đặc điểm |
|---|---|
| Nội dung | Khắc họa cuộc gặp gỡ thoáng chốc giữa nhà thơ và cô gái thanh niên xung phong trên đường Trường Sơn; ca ngợi vẻ đẹp của con người và khí thế hào hùng của dân tộc trong kháng chiến chống Mĩ. |
| Nghệ thuật | Thể thơ tự do, hình ảnh thơ mang tầm vóc sử thi (rừng lá đỏ, em gái tiền phương, bụi Trường Sơn), giọng thơ vừa lãng mạn vừa hùng tráng. |
Cách trình bày: đặt một ô trung tâm chia hai nhánh lớn (Đồng chí / Lá đỏ), mỗi nhánh tách thành hai nhánh con (Nội dung / Nghệ thuật) rồi ghi từ khóa như trên.
Bài 2: Căn cứ sắp xếp các văn bản vào cùng một bài học
Đề bài: Theo em, căn cứ vào đâu để sắp xếp các văn bản Lá đỏ, Đồng chí, Những ngôi sao xa xôi vào cùng một bài học?
Trả lời: Người biên soạn sắp xếp ba văn bản này vào cùng một bài học dựa trên các căn cứ sau:
- Cùng chủ đề: cả ba đều viết về đề tài chiến tranh cách mạng và hình ảnh người lính, người thanh niên xung phong trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ.
- Cùng cảm hứng chủ đạo: ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vẻ đẹp tâm hồn, lí tưởng sống và tinh thần hi sinh của thế hệ trẻ Việt Nam.
- Phù hợp với chủ điểm của bài học: làm nổi bật vai trò của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước (đúng như định hướng nêu ở phần Trước khi thảo luận).
Như vậy, căn cứ chính là sự thống nhất về đề tài, chủ đề và cảm hứng, dù khác nhau về thể loại (thơ và truyện) và thời điểm sáng tác.
Bài 3: Viết đoạn văn về câu danh ngôn
Đề bài: "Ước mơ và hi vọng giống như loài chim, cảm nhận buổi ban mai và khẽ khàng cất tiếng hót khi trời vẫn còn tối." (Khuyết danh). Viết đoạn văn (khoảng 8 – 10 câu) nêu suy nghĩ của em về câu danh ngôn trên.
Trước khi viết, em cần hiểu ý nghĩa câu nói: loài chim cất tiếng hót khi trời còn tối, tức là nó cảm nhận được bình minh sắp đến trước cả khi mặt trời mọc. Ước mơ và hi vọng cũng vậy: chúng giúp con người tin vào tương lai tươi sáng ngay giữa khó khăn, tăm tối. Đây là lời ngợi ca sức mạnh của niềm tin và khát vọng.
Đoạn văn tham khảo (khoảng 9 câu):
Câu danh ngôn "Ước mơ và hi vọng giống như loài chim, cảm nhận buổi ban mai và khẽ khàng cất tiếng hót khi trời vẫn còn tối" để lại trong em nhiều suy ngẫm. Hình ảnh loài chim cất tiếng hót khi trời chưa sáng gợi liên tưởng đến niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Cũng như chú chim cảm nhận được ánh ban mai từ trong bóng tối, con người có ước mơ sẽ luôn nhìn thấy hi vọng ngay giữa lúc gian nan nhất. Chính ước mơ tiếp thêm sức mạnh để ta vượt qua thử thách mà không gục ngã. Em nhận ra rằng những người sống có hoài bão thường không sợ hãi trước khó khăn trước mắt. Họ biết rằng "đêm tối" rồi sẽ qua đi và "bình minh" chắc chắn sẽ đến. Ngược lại, người đánh mất hi vọng sẽ dễ buông xuôi và dừng lại giữa đường. Vì thế, em hiểu rằng giữ vững ước mơ chính là giữ lấy ngọn lửa dẫn đường cho cuộc đời mình. Em sẽ nuôi dưỡng ước mơ và kiên trì hành động để biến nó thành hiện thực.
Vì sao viết như vậy:
- Mở đoạn dẫn lại câu danh ngôn và nêu cảm xúc chung.
- Thân đoạn giải thích nghĩa của hình ảnh "loài chim", "ban mai", "trời tối", rồi rút ra ý nghĩa về niềm tin và nghị lực; có đối chiếu hai kiểu người để tăng sức thuyết phục.
- Kết đoạn rút ra bài học và liên hệ bản thân, đúng yêu cầu nêu suy nghĩ của em.
Phần Thực hành đọc
Đây không phải bài tập có lời giải mà là phần định hướng tự đọc (văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính). Khi đọc, em chú ý:
- Số tiếng trong mỗi dòng, số dòng mỗi khổ, vần và nhịp thơ.
- Hình ảnh những chiếc xe không kính và người lính lái xe trên đường Trường Sơn.
- Bố cục, mạch cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của bài thơ.
- Đặc điểm ngôn ngữ của bài thơ (giọng điệu ngang tàng, gần với lời nói thường).
Em tự đọc và ghi chú theo bốn ý trên là đạt yêu cầu nhé.
Nếu em muốn cô vẽ chi tiết sơ đồ tư duy ở Bài 1 thành dạng văn bản phân nhánh đầy đủ hơn, cứ nói cô nhé.
