Giải Ngữ Văn 8 - Tập 2 trang 71

Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 71–72

Hai trang này gồm hai phần: phần Sau khi đọc (câu hỏi về văn bản Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa của Trần Đình Sử) và phần Thực hành tiếng Việt (Thành phần biệt lập).


Tóm tắt lý thuyết: Thành phần biệt lập

Thành phần biệt lập là bộ phận không tham gia vào việc diễn đạt nghĩa sự việc của câu. Trang sách giới thiệu hai loại:

LoạiChức năngDấu hiệu nhận biết
Thành phần gọi – đápTạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếpCác từ gọi – đáp: ơi, thưa, dạ, vâng…
Thành phần chêm xen (phụ chú)Bổ sung, làm rõ thêm một đối tượng trong câuĐặt trong ngoặc đơn, giữa hai dấu gạch ngang, hai dấu phẩy, giữa gạch ngang và phẩy, hoặc sau dấu hai chấm

Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi

Câu 1

Đề: Luận đề của văn bản Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa là gì?

Trả lời: Luận đề của văn bản là ý nghĩa của văn học và việc đọc văn. Tác giả khẳng định đọc văn chính là quá trình đi tìm ý nghĩa của tác phẩm – một cuộc chơi không có hồi kết.

Câu 2

Đề: Em hãy chỉ ra các luận điểm trong văn bản. Các luận điểm đó có tác dụng làm rõ những khía cạnh nào của luận đề?

Trả lời: Văn bản có các luận điểm chính:

  • Văn học có một đặc trưng là ý nghĩa của nó hàm ẩn, không lộ ra rõ ràng.
  • Mục đích của việc đọc văn là đi tìm ý nghĩa hàm ẩn ấy.
  • Cuộc đi tìm ý nghĩa không có hồi kết thúc.
  • Người đọc được quyền sáng tạo, nhưng vẫn phải tôn trọng văn bản (thưởng thức văn học cũng có quy luật).
  • Tác phẩm văn học và đọc văn là một hiện tượng diệu kì.

→ Các luận điểm này lần lượt làm rõ bản chất của ý nghĩa văn học, vai trò của người đọcđặc trưng của hoạt động đọc văn.

Câu 3

Đề: Tác giả cho rằng ý nghĩa của tác phẩm văn học thường không cố định. Câu văn nào trong văn bản giúp em hiểu rõ về vấn đề này?

Trả lời: Đó là những câu khẳng định ý nghĩa văn học luôn biến đổi, mở ra theo cách hiểu của từng người đọc và từng thời đại – tiêu biểu là ý "cuộc đi tìm ý nghĩa không có hồi kết thúc". Câu này cho thấy mỗi lần đọc lại, người đọc có thể phát hiện những tầng nghĩa mới, nên ý nghĩa tác phẩm không bao giờ đứng yên một chỗ.

Câu 4

Đề: Trong văn bản, các từ ngữ như chơi trò, trò chơi, ú tim, chơi được lặp lại nhiều lần. Với những từ ngữ đó, tác giả lí giải như thế nào về việc đọc văn?

Trả lời: Tác giả ví việc đọc văn như một trò chơi: người đọc vừa tìm kiếm, vừa khám phá ý nghĩa giống như chơi trò "ú tim" với tác phẩm. Cách so sánh này cho thấy đọc văn là hoạt động chủ động, sáng tạo và thú vị, đòi hỏi sự say mê tìm tòi chứ không phải tiếp nhận thụ động. Ý nghĩa luôn "ẩn nấp" để người đọc đi tìm.

Câu 5

Đề: Luận điểm "cuộc đi tìm ý nghĩa không có hồi kết thúc" ở đoạn (3) đã được tác giả làm sáng tỏ như thế nào? Em hãy bổ sung một số bằng chứng lấy từ trải nghiệm đọc của chính mình.

Trả lời: Tác giả làm sáng tỏ bằng lí lẽ: ý nghĩa văn học mở ra theo nhiều cách hiểu, mỗi thời đại, mỗi người đọc lại tìm thấy điều mới; vì vậy không ai đọc một lần là hiểu hết.

Bằng chứng từ trải nghiệm bản thân (gợi ý):

  • Khi nhỏ đọc Dế Mèn phiêu lưu kí chỉ thấy chuyện phiêu lưu vui; lớn hơn đọc lại mới hiểu bài học về lòng nhân ái, sự ân hận và trưởng thành.
  • Đọc lại một bài thơ học từ năm trước, em phát hiện thêm những ý nghĩa mà trước đây mình chưa nhận ra.

Câu 6

Đề: Trong đoạn (4) có câu: "Thưởng thức văn học cũng có quy luật.". Câu văn đó nhắc nhở em điều gì?

Trả lời: Câu văn nhắc nhở rằng người đọc tuy được tự do cảm nhận, sáng tạo nhưng không được tùy tiện, suy diễn vô căn cứ. Việc hiểu tác phẩm phải dựa trên văn bản, tôn trọng ngôn từ và hình tượng mà tác giả xây dựng. Sáng tạo trong khuôn khổ tôn trọng văn bản mới là cách thưởng thức đúng đắn.

Câu 7

Đề: Đọc đoạn (5) và cho biết vì sao tác giả quan niệm tác phẩm văn học và đọc văn là một hiện tượng diệu kì. Giọng văn trong đoạn (5) có gì khác với những đoạn còn lại?

Trả lời: Tác giả cho đó là hiện tượng diệu kì vì tác phẩm chỉ thực sự "sống" khi được người đọc tiếp nhận: con chữ vốn lặng im trên trang giấy bỗng vang lên, hình tượng hiện ra, ý nghĩa nảy sinh nhờ sự đồng sáng tạo của người đọc. Đó là sự gặp gỡ kì diệu giữa nhà văn và bạn đọc.

Về giọng văn: các đoạn trước nghiêng về lập luận, phân tích (giọng trí tuệ, chặt chẽ), còn đoạn (5) mang giọng trữ tình, giàu cảm xúc, thể hiện niềm say mê và trân trọng đối với văn học.

Câu 8

Đề: Em hãy chỉ ra mối quan hệ giữa đoạn (5) và đoạn (6). Mối quan hệ đó làm rõ ý nghĩa gì của việc đọc văn?

Trả lời: Đoạn (5) nêu lên sự diệu kì của tác phẩm và việc đọc văn; đoạn (6) tiếp nối và nâng cao, khẳng định ý nghĩa, giá trị của hoạt động đọc văn đối với con người. Hai đoạn có quan hệ bổ sung, tăng tiến: từ chỗ chỉ ra điều kì diệu đến chỗ khẳng định giá trị. Mối quan hệ đó làm rõ rằng đọc văn không chỉ là tìm ý nghĩa cho tác phẩm mà còn giúp bồi đắp tâm hồn, làm phong phú đời sống tinh thần của chính người đọc.


Viết kết nối với đọc

Đề: Vì sao có thể nói "không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong"? Em hãy viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trả lời câu hỏi đó.

Đoạn văn tham khảo:

Có thể nói "không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong" bởi ý nghĩa của văn học vốn không cố định mà luôn mở ra theo từng cách tiếp nhận. Mỗi tác phẩm chứa nhiều tầng nghĩa hàm ẩn, không thể nắm bắt hết chỉ trong một lần đọc. Khi tuổi tác, vốn sống và trải nghiệm thay đổi, ta lại nhìn thấy ở tác phẩm những điều mới mẻ. Tôi từng đọc Dế Mèn phiêu lưu kí khi còn nhỏ và chỉ thấy đó là câu chuyện phiêu lưu lí thú; lớn lên đọc lại, tôi mới thấm thía bài học về lòng nhân ái và sự trưởng thành. Như vậy, mỗi lần đọc là một lần khám phá, một cuộc đối thoại mới giữa người đọc và tác phẩm. Tác phẩm hay luôn để dành cho ta điều gì đó để suy ngẫm về sau. Chính vì thế, việc đọc văn giống như một cuộc đi tìm ý nghĩa không bao giờ kết thúc. Đó cũng là sức hấp dẫn lâu bền của văn học.

Thực hành tiếng Việt

Bài 1: Tìm thành phần gọi – đáp và cho biết chức năng

a.

– Sợ gì? Mày bảo tao sợ cái gì? Mày bảo tao còn biết sợ ai hơn tao nữa? – Thưa anh, thế thì... hử hừ... em xin sợ. Mời anh cứ đùa một mình thôi. (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)
  • Thành phần gọi – đáp: "Thưa anh".
  • Chức năng: dùng để tạo lập, mở đầu quan hệ giao tiếp, thể hiện thái độ lễ phép, khúm núm của người nói (Dế Choắt) đối với người nghe (Dế Mèn).

b.

Ê, đồ quỷ! – Nét Len vừa quát vừa nện chân xuống vỏ tàu. (Giuyn Véc-nơ, Cuộc chạm trán trên đại dương)
  • Thành phần gọi – đáp: "Ê" (kèm theo tiếng gọi mang sắc thái bực bội).
  • Chức năng: dùng để gọi, thiết lập sự chú ý, đồng thời bộc lộ thái độ tức giận của nhân vật.

c.

Cậu bé ơi, ở đây ngày nào người ta chẳng bán đến hàng nghìn con lạc đà! (Đa-ni-en Pen-nắc, Mắt sói)
  • Thành phần gọi – đáp: "Cậu bé ơi".
  • Chức năng: dùng để gọi, hướng lời nói đến đối tượng giao tiếp, tạo lập quan hệ trò chuyện.

Bài 2: Tìm thành phần chêm xen và cho biết chúng làm rõ thêm nội dung gì

a.

Hàng vạn người đọc rất tinh, đã thuộc ba bài thu này, mà không thuộc được các bài thu khác (của các tác giả khác). (Xuân Diệu)
  • Thành phần chêm xen: "(của các tác giả khác)".
  • Làm rõ: giải thích cụ thể "các bài thu khác" là của những tác giả nào, tránh nhầm lẫn.

b.

Có về thăm "Vườn Bùi chốn cũ" – đây là "xứ Vườn Bùi" theo đồng bào gọi cả vùng Trung Lương nằm trong xã Yên Đổ cũ, chứ không phải chỉ là khu vườn của nhà ở cụ Nguyễn Khuyến – mới càng hiểu rõ bài "Ao thu lạnh lẽo nước trong veo". (Xuân Diệu)
  • Thành phần chêm xen: phần đặt giữa hai dấu gạch ngang.
  • Làm rõ: giải thích, bổ sung thông tin về địa danh "Vườn Bùi" để người đọc hiểu đúng phạm vi của địa danh này.

c.

Chiều hôm đó, bọn mèo ngạc nhiên khi không thấy con hải âu xuất hiện để xơi món yêu thích – món mực ống mà Xe-crét-ta-ri-ô chôm được từ bếp nhà hàng. (Lu-i Xe-pun-vê-da)
  • Thành phần chêm xen: "món mực ống mà Xe-crét-ta-ri-ô chôm được từ bếp nhà hàng".
  • Làm rõ: giải thích cụ thể "món yêu thích" là món gì và do ai lấy về.

d.

Đọc văn (phân tích, bình giảng, bình luận) tất yếu phải tôn trọng văn bản, từ ngôn từ đến hình tượng. (Trần Đình Sử)
  • Thành phần chêm xen: "(phân tích, bình giảng, bình luận)".
  • Làm rõ: liệt kê, cụ thể hóa các hoạt động bao gồm trong việc "đọc văn".

Bài 3: Tìm thành phần biệt lập và xác định loại

a.

Và hẳn vì buồn nên Ánh Vàng muốn được nhìn thấy những điều mới mẻ. (Đa-ni-en Pen-nắc, Mắt sói)
  • Thành phần biệt lập: "hẳn" → thành phần tình thái, thể hiện sự phỏng đoán, chưa chắc chắn của người nói.

b.

Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh... (Vũ Bằng, Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt)
  • Thành phần biệt lập: "mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội" → thành phần chêm xen (phụ chú), làm rõ thêm "mùa xuân của tôi" là mùa xuân ở đâu.

c.

Này bác có lợn cưới kia ơi! Từ lúc mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả! (Lợn cưới, áo mới)
  • Thành phần biệt lập: "Này… ơi" → thành phần gọi – đáp, dùng để gọi, hướng lời nói đến người nghe.

d.

Ôi những vạt ruộng vàng Chiều nay rung rinh lúa ngả. (Nguyễn Đình Thi, Đường núi)
  • Thành phần biệt lập: "Ôi" → thành phần cảm thán, bộc lộ cảm xúc ngỡ ngàng, xúc động trước cảnh đồng lúa.

Vậy là mình đã giải xong toàn bộ câu hỏi và bài tập trên hai trang. Lưu ý nhỏ: với các câu hỏi cảm nhận (câu 5, đoạn văn), em nên thêm trải nghiệm đọc của chính mình để bài làm tự nhiên và có dấu ấn riêng nhé.

Chế độ đọc sách →