Giải Ngữ Văn 8 - Tập 2 trang 69
Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 69–70
Lưu ý nhỏ trước khi bắt đầu: hai trang ảnh em gửi thực tế đánh số 67 và 68 (không phải 69 – 70). Cô giải theo đúng nội dung ảnh nhé.
Đây là phần mở đầu văn bản 2: "Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa" của Trần Đình Sử. Trang này gồm câu hỏi "Trước khi đọc", phần văn bản chính và các hộp ghi chú bên lề (Theo dõi, Chú ý, Suy luận). Cô sẽ tóm tắt lý thuyết, trả lời câu hỏi chuẩn bị và gợi ý trả lời các hộp ghi chú.
Tóm tắt nội dung văn bản
Đây là một văn bản nghị luận văn học. Tác giả Trần Đình Sử bàn về bản chất của việc đọc văn:
- Văn học có ý nghĩa, nhưng là ý nghĩa tiềm ẩn. Đọc văn chính là đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn ấy, giống một "trò chơi" ú tim đầy mê hoặc.
- Đọc văn là thông qua văn bản để hiểu thế giới và cuộc đời, đi tìm ý nghĩa nhân sinh bằng chính tâm hồn người đọc; phương pháp chỉ là phụ trợ.
- Ý nghĩa của văn học không cố định, không đơn nhất mà luôn biến động, đa nghĩa, mơ hồ. Vì vậy cuộc đi tìm ý nghĩa không bao giờ kết thúc; mọi người đọc đều bình đẳng, không ai là người duy nhất đúng.
- Tuy nhiên, thưởng thức văn học cũng có quy luật: người đọc phải tôn trọng văn bản, không được xa rời nó, nhưng vẫn có quyền tưởng tượng, lí giải miễn không phương hại tính toàn vẹn của tác phẩm.
- Đọc văn là một hiện tượng diệu kì: người đọc hóa thân vào nhân vật, ranh giới giữa người đọc và tác giả gần như bị xóa bỏ.
- Đọc văn là nền tảng của học văn, giúp người đọc tự phát hiện ra mình và trưởng thành.
Trước khi đọc
Câu 1
Đề: Sách văn học hấp dẫn đối với nhiều người, trong đó có thể có em. Điều gì đã tạo nên sức cuốn hút ấy?
Gợi ý trả lời:
Đây là câu hỏi mở, em nêu cảm nhận thật của mình. Một số ý có thể triển khai:
- Sách văn học đưa ta vào những thế giới mới lạ, gặp gỡ nhiều số phận, nhiều vùng đất, nhiều thời đại mà ngoài đời ta khó trải nghiệm.
- Văn học khơi gợi cảm xúc: vui, buồn, xúc động, đồng cảm với nhân vật, giúp ta hiểu hơn về con người và cuộc sống.
- Mỗi tác phẩm ẩn chứa một ý nghĩa thú vị, kích thích trí tưởng tượng và sự khám phá của người đọc.
- Văn chương đẹp ở ngôn từ, hình ảnh, mang lại niềm vui thẩm mĩ.
Em có thể kết bằng một ví dụ cụ thể về cuốn sách mình yêu thích và lí do bị cuốn hút.
Câu 2
Đề: Có những tác phẩm văn học cần được đọc đi đọc lại nhiều lần. Theo em, thực tế đó nói lên điều gì?
Gợi ý trả lời:
Thực tế đó cho thấy:
- Tác phẩm văn học có nhiều tầng nghĩa, đa nghĩa, không thể nắm bắt hết chỉ trong một lần đọc.
- Mỗi lần đọc lại, với vốn sống và tâm trạng khác nhau, ta lại phát hiện thêm ý nghĩa mới, cảm nhận sâu sắc hơn.
- Giá trị của tác phẩm lớn, có sức sống lâu bền, càng đọc càng thấy hay, càng "giàu có lên" như chính tác giả nói.
Ý này gắn rất sát với luận điểm trung tâm của bài: đọc văn là cuộc chơi tìm ý nghĩa không bao giờ kết thúc.
Gợi ý trả lời các hộp ghi chú bên lề
Các hộp này giúp em rèn kĩ năng đọc hiểu trong khi đọc. Cô gợi ý hướng trả lời:
| Hộp | Câu hỏi | Gợi ý trả lời |
|---|---|---|
| Theo dõi (đoạn 1) | Cách dẫn dắt vấn đề của tác giả | Tác giả mở đầu bằng cách nêu đặc điểm của văn học (có ý nghĩa tiềm ẩn), rồi ví đọc văn như "trò chơi ú tim" tìm ý nghĩa. Cách dẫn dắt tự nhiên, hấp dẫn, dùng hình ảnh so sánh gần gũi để gây hứng thú. |
| Chú ý (đoạn 2) | Tác giả quan niệm đọc văn là gì? | Đọc văn là thông qua văn bản văn học để đọc hiểu một văn bản lớn hơn là thế giới và cuộc đời; là đi tìm ý nghĩa nhân sinh bằng chính tâm hồn người đọc. |
| Chú ý (đoạn 3) | Các cách diễn đạt "vì thế", "mới thực sự là", "vậy nên", "thực tế cho thấy" có tác dụng gì? | Đó là các từ ngữ liên kết, lập luận, giúp dẫn dắt mạch suy luận chặt chẽ, làm rõ quan hệ nguyên nhân – kết quả và tăng tính thuyết phục cho lí lẽ. |
| Suy luận (đoạn 4) | Đọc văn là cuộc chơi, phải chăng đã tham gia chơi thì phải tôn trọng luật của nó? | Đúng. "Luật" ở đây là văn bản: người đọc phải tôn trọng ngôn từ, hình tượng, cấu tạo của văn bản, không được tùy tiện suy diễn xa rời tác phẩm. |
| Chú ý (đoạn 5) | Cách lí giải của tác giả về sự hóa thân của người đọc | Khi đọc, văn bản như "biến mất" để hiện ra thế giới hình tượng; người đọc hóa thân vào nhân vật, suy nghĩ bằng ngôn từ của nhà văn, còn nhà văn lại phát biểu bằng tâm hồn người đọc, gần như xóa bỏ ranh giới giữa hai bên. |
| Theo dõi (đoạn 6) | Cách nêu bằng chứng có gì khác văn bản "Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam"? | Ở văn bản này, tác giả nêu bằng chứng là danh ngôn, kinh nghiệm của các nhà văn lớn (Đỗ Phủ, M. Go-rơ-ki) để khẳng định vai trò của đọc văn. Còn "Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam" lại dẫn chứng trực tiếp từ thơ Nguyễn Khuyến để phân tích, chứng minh. Tức một bên dùng lí lẽ và danh ngôn khái quát, một bên đi sâu phân tích dẫn chứng cụ thể từ tác phẩm. |
Nếu em cần cô soạn tiếp phần "Sau khi đọc" (các câu hỏi luyện tập) ở những trang sau, gửi ảnh tiếp nhé.
