Giải Ngữ Văn 9 - Tập 2 trang 65
Lời giải chi tiết SGK Lớp 9 · Môn Ngữ Văn · Trang 65–66
Tóm tắt lý thuyết: Nói và nghe – Thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống
Bài học rèn kĩ năng thảo luận về một vấn đề đời sống được gợi ra từ tác phẩm văn học (ví dụ thơ Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ, Mưa xuân – Nguyễn Bính).
Quy trình gồm 3 bước:
| Bước | Nội dung chính |
|---|---|
| 1. Trước khi thảo luận | Chọn đề tài (vấn đề đáng quan tâm, phù hợp lứa tuổi); chuẩn bị lí lẽ, bằng chứng; phân vai người chủ trì, thư kí, thành viên. |
| 2. Thảo luận | Mở đầu (nêu vấn đề) → Triển khai (phát biểu, tán thành/phản đối kèm lí lẽ, bằng chứng; thư kí ghi biên bản) → Kết thúc (chủ trì tổng kết). |
| 3. Đánh giá | Xem xét ý nghĩa vấn đề, chất lượng ý kiến, mức độ giải quyết vấn đề; rút kinh nghiệm về cách điều hành, kết hợp ngôn ngữ nói với ngôn ngữ cơ thể. |
Mục đích thảo luận: giúp người tham gia hiểu vấn đề đầy đủ, sâu sắc, tìm được giải pháp phù hợp và thêm thấu hiểu lẫn nhau.
Phần dưới đây cô tập trung giải kĩ mục Củng cố, mở rộng (4 bài tập) và hướng dẫn mục Thực hành đọc.
Bài 1: Lập bảng đặc điểm nội dung và nghệ thuật của hai bài thơ
Đề: Lập bảng ghi lại những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của hai bài thơ Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ) và Mưa xuân (Nguyễn Bính).
| Phương diện | Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ) | Mưa xuân (Nguyễn Bính) |
|---|---|---|
| Đề tài | Vẻ đẹp, sức sống của tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ | Cảnh mưa xuân và tâm trạng của cô gái quê trong mùa hội làng |
| Nội dung chính | Ngợi ca tiếng Việt gắn liền với lịch sử, văn hóa, đời sống lao động và tâm hồn dân tộc; thể hiện tình yêu, niềm tự hào và ý thức gìn giữ tiếng mẹ đẻ | Bức tranh xuân tươi đẹp ở làng quê Bắc Bộ; diễn tả cung bậc cảm xúc của người con gái: háo hức, chờ mong rồi hụt hẫng, lỡ làng trong tình yêu |
| Cảm xúc chủ đạo | Thiết tha, tự hào, trân trọng | Trong trẻo, e ấp, rồi buồn man mác, tiếc nuối |
| Thể thơ | Tự do (số tiếng linh hoạt) | Bảy chữ, mang âm hưởng dân gian |
| Hình ảnh đặc sắc | Tiếng Việt gắn với hình ảnh đời thường: tiếng mẹ ru, tiếng kéo gỗ, bùn, lụa… | Mưa xuân phơi phới, hoa xoan, hội chèo, con đê đầu làng |
| Biện pháp nghệ thuật | So sánh, ẩn dụ, điệp ngữ; ngôn ngữ giàu chất suy tưởng | Tả cảnh ngụ tình, ngôn ngữ mộc mạc, giọng điệu nhẹ nhàng đậm chất chân quê |
| Đặc trưng phong cách | Trí tuệ, suy ngẫm, dạt dào cảm xúc công dân | "Chân quê", dân dã, đậm hồn quê Việt Nam |
Bài 2: Tìm đọc thơ Lưu Quang Vũ và Nguyễn Bính
Đề: Tìm đọc một số bài thơ của Lưu Quang Vũ và Nguyễn Bính. Trao đổi với các bạn về những nét đặc sắc trong sáng tác của mỗi nhà thơ.
Gợi ý của cô:
- Thơ nên tìm đọc:
- Lưu Quang Vũ: Vườn trong phố, Và anh tồn tại, Phố ta, Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi.
- Nguyễn Bính: Chân quê, Tương tư, Lỡ bước sang ngang, Cô lái đò.
- Nét đặc sắc trao đổi với bạn:
- Lưu Quang Vũ: thơ giàu cảm xúc, kết hợp tình yêu cá nhân với tình yêu đất nước; hình ảnh gần gũi nhưng giàu chất suy tưởng; giọng thơ vừa nồng nhiệt vừa trăn trở.
- Nguyễn Bính: được mệnh danh "nhà thơ chân quê"; thơ mang âm hưởng ca dao, dân ca; ngôn ngữ mộc mạc, thấm đẫm hồn quê và những mối tình thôn dã dang dở.
Bài 3: Tìm đọc thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ
Đề: Tìm đọc một số bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ. Ghi vào nhật kí đọc sách cảm nhận của em về những bài thơ đó.
Gợi ý bài thơ theo từng thể:
| Thể thơ | Bài thơ gợi ý |
|---|---|
| Sáu chữ | Quê hương (Đỗ Trung Quân), Đoàn thuyền đánh cá (một số khổ – Huy Cận) |
| Bảy chữ | Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Mưa xuân (Nguyễn Bính) |
| Tám chữ | Nhớ rừng (Thế Lữ), Quê hương (Tế Hanh) |
Mẫu một mục nhật kí đọc sách (để em tham khảo cách viết):
Bài thơ: Quê hương (Tế Hanh) – thể tám chữ. Cảm nhận: Bài thơ vẽ nên bức tranh làng chài tươi sáng với hình ảnh con thuyền, cánh buồm "rướn thân trắng bao la thâu góp gió". Em xúc động nhất ở nỗi nhớ quê da diết của tác giả qua câu kết "Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá". Thể tám chữ với nhịp thơ uyển chuyển giúp dòng cảm xúc trải ra tự nhiên, sâu lắng.
Bài 4: Viết đoạn văn về quan niệm thơ ca của Thế Lữ
Đề: Chia sẻ quan niệm về thơ ca, Thế Lữ viết:
Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu; Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn màu. (Cây đàn muôn điệu)
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó.
Đoạn văn mẫu:
Hai câu thơ của Thế Lữ thể hiện một quan niệm sâu sắc về sứ mệnh và khả năng phong phú của thơ ca. Hình ảnh "đàn muôn điệu" và "bút muôn màu" cho thấy nhà thơ ví mình như một nghệ sĩ có thể diễn tả mọi cung bậc cảm xúc và mọi sắc thái của cuộc sống. Theo Thế Lữ, thơ ca không bó hẹp trong một đề tài hay một giọng điệu mà phải đa dạng, linh hoạt như muôn điệu đàn, muôn màu sắc. Quan niệm này khẳng định khát vọng sáng tạo không ngừng của người cầm bút. Em cho rằng đây là một quan niệm đúng đắn và tiến bộ. Một bài thơ hay phải chạm tới được nhiều rung động khác nhau trong lòng người đọc, khi vui tươi, khi trầm lắng, khi thiết tha. Chính sự phong phú ấy làm nên sức sống lâu bền cho thơ ca. Bởi vậy, người nghệ sĩ chân chính luôn cần một tâm hồn nhạy cảm và một ngòi bút giàu sáng tạo để vẽ nên những "muôn màu" của đời sống.
Thực hành đọc (hướng dẫn)
Khi đọc văn bản tiếp theo, em cần chú ý bốn điểm sau:
- Số tiếng trong mỗi dòng, số dòng trong mỗi khổ, vần và nhịp thơ.
- Bố cục, kết cấu, mạch cảm xúc của bài thơ.
- Những hình ảnh nổi bật và biện pháp tu từ đặc sắc.
- Chủ đề bài thơ và căn cứ để xác định chủ đề.
Đây là phần định hướng tự đọc, không có câu hỏi cần giải. Em hãy dùng bốn gợi ý này như một "danh sách kiểm tra" để phân tích bất kì bài thơ nào trong phần Thực hành đọc.
Hai trang này chủ yếu là hướng dẫn kĩ năng và bài tập mở (cần em tự đọc thêm, tự liên hệ). Nếu em muốn cô triển khai sâu một bài cụ thể, ví dụ phân tích kĩ Tiếng Việt hay Mưa xuân cho bảng ở Bài 1, cứ nói nhé.
