Giải Ngữ Văn 9 - Tập 1 trang 95
Lời giải chi tiết SGK Lớp 9 · Môn Ngữ Văn · Trang 95–96
Trước khi bắt đầu, mình lưu ý nhỏ: ảnh em gửi thực ra là trang 93 và 94 (in ở góc dưới), không phải 95 – 96. Vì vậy mình để đúng số trang theo ảnh nhé. Giờ ta cùng đi vào nội dung.
Tóm tắt phần lý thuyết
Đoạn văn ở trang 93 là phần cuối bài nghị luận văn học "Người con gái Nam Xương – một bi kịch của con người" của Nguyễn Đăng Na, bàn về truyện "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ. Các ý chính:
- Bi kịch của Vũ Thị Thiết một phần do chính nàng: nàng biết chồng đa nghi mà vẫn trỏ bóng mình bảo con đó là cha, gây hiểu lầm. Vợ chồng không hiểu tính nhau thì bi kịch khó tránh.
- Nét độc đáo trong truyện truyền kì Nguyễn Dữ: ông dung hòa giữa hiện thực và ước mơ. Vũ Nương được minh oan, hiện về trong ước mơ đoàn tụ, nhưng ảo ảnh nhanh chóng tan biến – chia li là vĩnh viễn. Cuối cùng vẫn là hiện thực đắng cay: gia đình tan vỡ.
- Cách kết thúc vấn đề: với "Người con gái Nam Xương", Nguyễn Dữ đã vượt khỏi công thức thông lệ. Vũ Nương không phải trang liệt nữ mà là người đàn bà bình thường, nên tác phẩm vẫn hấp dẫn người đọc hôm nay.
Trang 94 gồm phần câu hỏi "Sau khi đọc", bài viết kết nối, và mở đầu "Thực hành tiếng Việt" về cách dẫn trực tiếp – gián tiếp.
Phần: Trả lời câu hỏi (Sau khi đọc)
Câu 1: Xác định vấn đề được bàn luận và bố cục của bài nghị luận
Vấn đề bàn luận: "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ là một bi kịch của con người – cụ thể là bi kịch về số phận người phụ nữ và bi kịch gia đình.
Bố cục gồm 5 phần:
- (1) Mở đầu: giới thiệu tác phẩm và nêu vấn đề.
- (2) Bi kịch của nhân vật Vũ Nương.
- (3) Nguyên nhân khiến Vũ Nương phải tự vẫn.
- (4) Nét đặc sắc trong nghệ thuật truyện truyền kì của Nguyễn Dữ.
- (5) Kết thúc: khẳng định sự vượt thoát công thức và giá trị lâu bền của tác phẩm.
Câu 2: Từ luận đề, tác giả triển khai các luận điểm theo trình tự nào?
Tác giả triển khai theo trình tự hợp lí, đi từ hiện tượng đến bản chất:
- Trước hết nêu bi kịch của Vũ Nương (số phận bất hạnh).
- Tiếp đến lí giải nguyên nhân dẫn tới bi kịch.
- Sau đó phân tích nét đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Dữ trong cách dựng bi kịch.
- Cuối cùng khái quát, nâng tầm ý nghĩa: tác phẩm chạm tới bi kịch muôn thuở của con người.
Đây là trình tự từ cụ thể đến khái quát, giúp người đọc theo dõi mạch lập luận chặt chẽ, thuyết phục.
Câu 3: Theo tác giả, bi kịch của Vũ Nương là gì? Tác giả làm sáng tỏ qua lí lẽ và bằng chứng nào?
Theo tác giả, bi kịch của Vũ Nương là bi kịch của người phụ nữ đức hạnh, thủy chung nhưng bị oan, không được bảo vệ và phải tìm đến cái chết để minh oan.
Lí lẽ và bằng chứng làm sáng tỏ:
- Lí lẽ: Vũ Nương là người vợ hiền, nết na, thủy chung, hết lòng vì gia đình nhưng lại bị chồng nghi oan.
- Bằng chứng: lời nàng giãi bày khi tiễn chồng ("chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên"), việc nàng một mình nuôi con, chăm mẹ chồng, và cuối cùng bị chồng nghi ngờ dẫn đến phải gieo mình xuống sông.
Câu 4: Theo tác giả, điều gì khiến Vũ Nương nhảy xuống sông tự tử? Em nghĩ gì về cách lí giải đó?
Theo tác giả, một phần bi kịch là do chính Vũ Nương: nàng biết chồng "có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức" nhưng vẫn trỏ bóng mình trên vách bảo con rằng đó là cha. Chính chi tiết chiếc bóng cùng lời ngây thơ của bé Đản đã khiến Trương Sinh ghen tuông, nghi ngờ, dẫn đến việc Vũ Nương bị dồn vào đường cùng và phải tự vẫn.
Suy nghĩ về cách lí giải: Cách lí giải này khá mới mẻ, sâu sắc, nhìn nhận vấn đề công bằng và đa chiều. Tác giả không đổ hết lỗi cho Trương Sinh hay xã hội phong kiến, mà chỉ ra rằng vợ chồng không thấu hiểu tính nhau cũng là mầm mống bi kịch. Tuy nhiên, ta cần thấy nguyên nhân sâu xa vẫn là chế độ nam quyền, thói gia trưởng độc đoán của Trương Sinh và chiến tranh chia cắt – đó mới là gốc rễ đẩy người phụ nữ vào bi kịch.
Câu 5: Những nét đặc sắc nào trong truyện truyền kì của Nguyễn Dữ được làm rõ ở phần (4)?
Nét đặc sắc được làm rõ:
- Nguyễn Dữ đã dung hòa được hiện thực với ước mơ, giữa cái tồn tại với cái ảo ảnh.
- Ông để Vũ Nương trở về trong ước mơ đoàn tụ (yếu tố kì ảo), nhưng ảo ảnh ấy "chập chờn và mau chóng tan biến" – chia li là vĩnh viễn, người chết không thể sống lại.
- Cuối cùng hiện thực vẫn trở về với bi kịch gia đình: đứa trẻ mồ côi, người chồng cô đơn, người vợ đã chết.
Đây chính là nét đặc sắc mà các tác giả truyền kì sau Nguyễn Dữ "chẳng thể vượt qua".
Câu 6: Tác giả làm nổi bật nét độc đáo bằng cách nào? Những câu văn nào giúp em hiểu rõ?
Cách làm nổi bật: Tác giả kết hợp phân tích yếu tố kì ảo (cảnh Vũ Nương hội ngộ Trương Sinh) với hiện thực (cảnh tan biến, chia li), từ đó chỉ ra sự dung hòa độc đáo giữa hiện thực và ước mơ trong ngòi bút Nguyễn Dữ.
Những câu văn tiêu biểu:
- "Cái tài của Nguyễn Dữ là ông đã dung hoà được hiện thực với ước mơ, giữa cái tồn tại với cái ảo ảnh."
- "Đấy chính là nét đặc sắc trong truyện truyền kì của Nguyễn Dữ mà các tác giả sau chẳng thể vượt qua."
- "Ảo ảnh đoàn tụ mau chóng tan biến để lại một hiện thực đắng cay chẳng ai muốn nhưng không thể đảo ngược lại được."
Câu 7: Phần (5) có vai trò gì? Câu văn nào giúp em xác định vai trò ấy?
Vai trò: Phần (5) là phần kết, có vai trò tổng kết, khái quát và nâng cao vấn đề – khẳng định sự vượt thoát công thức thông lệ của Nguyễn Dữ và giá trị nhân văn, sức sống lâu bền của tác phẩm.
Câu văn giúp xác định:
- "Có thể nói, với Người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ đã vượt khỏi những công thức thông lệ về hình tượng người phụ nữ trong thể truyền kì."
- "Phản ánh số phận Vũ Thị Thiết, Nguyễn Dữ đã đề cập tới cái bi kịch muôn thuở của con người. Có lẽ vì vậy mà Người con gái Nam Xương vẫn còn sức hấp dẫn đối với người đọc ngày nay."
Câu 8: Một số chi tiết, nhân vật không được phân tích (lời mẹ dặn, Linh Phi, Phan Lang...). Em nghĩ gì về việc sử dụng lí lẽ, dẫn chứng trong văn nghị luận văn học?
Việc tác giả không phân tích mọi chi tiết là hoàn toàn hợp lí. Trong văn nghị luận văn học, người viết phải lựa chọn lí lẽ và dẫn chứng tiêu biểu, phục vụ trực tiếp cho luận điểm, chứ không phải kể lại hay phân tích toàn bộ tác phẩm.
Tác giả tập trung vào chi tiết chiếc bóng vì nó là mấu chốt tạo nên bi kịch – đúng với luận đề. Những chi tiết như Linh Phi, Phan Lang tuy hay nhưng không phục vụ trực tiếp cho việc làm rõ "bi kịch của con người", nên có thể lược bỏ. Điều này cho thấy dẫn chứng trong nghị luận cần chọn lọc, tiêu biểu, có sức thuyết phục, tránh dàn trải làm loãng vấn đề.
Phần: Viết kết nối với đọc
Đề bài: Em có đồng tình với phân tích của tác giả về chi tiết chiếc bóng trên vách không? Viết đoạn văn khoảng 7 – 9 câu.
Đoạn văn tham khảo:
Em hoàn toàn đồng tình với phân tích của tác giả về chi tiết chiếc bóng trên vách trong "Chuyện người con gái Nam Xương". Đây là chi tiết nghệ thuật đặc sắc, vừa thắt nút vừa mở nút cho toàn bộ câu chuyện. Khi Trương Sinh đi lính, Vũ Nương trỏ bóng mình bảo con đó là cha để vơi đi nỗi nhớ chồng và giúp con cảm nhận tình phụ tử. Lời nói ngây thơ ấy xuất phát từ tình yêu thương, nhưng lại trở thành nguyên cớ khiến Trương Sinh ghen tuông, nghi oan vợ. Như tác giả chỉ ra, bi kịch một phần do chính Vũ Nương khi không lường trước được tính đa nghi của chồng. Tuy nhiên, em cho rằng nguyên nhân sâu xa vẫn là thói gia trưởng, độc đoán của Trương Sinh và sự bất công của xã hội phong kiến đối với người phụ nữ. Chính chi tiết chiếc bóng đã tố cáo cái xã hội ấy một cách thấm thía. Vì thế, cách phân tích của tác giả là xác đáng và giàu sức thuyết phục.
Phần: Thực hành tiếng Việt – Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp
Tóm tắt lý thuyết:
- Dẫn trực tiếp: nhắc lại nguyên văn lời nói/ý nghĩ, đặt trong dấu ngoặc kép.
- Dẫn gián tiếp: thuật lại lời/ý theo cách diễn đạt của mình, có điều chỉnh, không dùng dấu ngoặc kép.
Bài tập 1 (câu a)
Đề: Xác định phần dẫn, cho biết dẫn theo cách trực tiếp hay gián tiếp, dấu hiệu nhận ra.
a. Khi chồng ra đi, nàng giãi bày nỗi niềm của mình: "Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu […], chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi".
Trả lời:
- Phần dẫn: "Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu […], chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi".
- Cách dẫn: dẫn trực tiếp.
- Dấu hiệu nhận biết:
- Phần dẫn được đặt trong dấu ngoặc kép, nhắc lại nguyên văn lời nói của nhân vật Vũ Nương.
- Trước phần dẫn có dấu hai chấm và động từ "giãi bày" báo hiệu lời dẫn.
Trang em gửi chỉ hiển thị đến câu 1a của bài Thực hành tiếng Việt. Nếu em gửi tiếp trang sau (các câu b, c, d và bài 2, 3...), mình sẽ giải trọn vẹn giúp em nhé.
