Giải Ngữ Văn 9 - Tập 1 trang 141
Lời giải chi tiết SGK Lớp 9 · Môn Ngữ Văn · Trang 141–142
(Ghi chú nhỏ: Hai trang trong ảnh được đánh số 139 và 140, mình giải theo đúng số trang trên ảnh để bạn dễ đối chiếu nhé.)
Tóm tắt nội dung lý thuyết
Phần đầu trang 139 là phần hướng dẫn cuối của bài Nói và nghe (thảo luận về một vấn đề trong đời sống được gợi ra từ tác phẩm văn học), gồm:
- Vòng 2: thảo luận trong phạm vi lớp – đại diện nhóm trình bày, các thành viên góp ý, đặt câu hỏi, thư kí ghi biên bản, người chủ trì tổng kết.
- Phần Đánh giá: đánh giá ý nghĩa buổi thảo luận, chất lượng ý kiến và cách kết hợp ngôn ngữ nói, ngôn ngữ cơ thể, phương tiện hỗ trợ.
Tiếp theo là phần Củng cố, mở rộng (3 bài tập) và phần Thực hành đọc với văn bản Âm mưu và tình yêu của Si-lơ.
Bài 1: Kẻ bảng và điền thông tin về hai văn bản bi kịch
Đề: Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền thông tin phù hợp cho hai văn bản Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Lơ Xít.
Gợi ý điền bảng:
| Văn bản | Nguồn gốc đề tài | Xung đột | Phẩm chất của nhân vật chính | Hành động chính trong đoạn trích | Tính chất lời thoại |
|---|---|---|---|---|---|
| Rô-mê-ô và Giu-li-ét | Dựa trên truyền thuyết, câu chuyện dân gian Ý thời Phục hưng (Sếch-xpia sáng tác) | Xung đột giữa tình yêu say đắm của đôi trẻ với mối thù truyền kiếp giữa hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét | Rô-mê-ô và Giu-li-ét: chân thành, mãnh liệt, dám vượt lên định kiến, sẵn sàng hi sinh vì tình yêu | Cuộc gặp gỡ, tự bạch tình yêu trong đêm dưới ban công nhà Giu-li-ét; hai người thổ lộ và thề nguyền | Lời thoại giàu chất thơ, trữ tình, nhiều hình ảnh so sánh, ẩn dụ ngợi ca tình yêu và vẻ đẹp |
| Lơ Xít | Dựa trên đề tài lịch sử – truyền thuyết Tây Ban Nha (Coóc-nây sáng tác) | Xung đột giữa tình yêu và danh dự, bổn phận dòng họ (tình yêu của Rô-đri-gơ và Si-men đối lập với nghĩa vụ trả thù cho cha) | Nhân vật chính trọng danh dự, có lí trí, giằng xé giữa tình riêng và bổn phận, giữ phẩm giá cao quý | Diễn biến tâm trạng giằng xé khi phải lựa chọn giữa tình yêu và trách nhiệm bảo vệ danh dự gia đình | Lời thoại trang trọng, lí trí, mang tính độc thoại, thể hiện sự đấu tranh nội tâm |
Lưu ý: Đây là gợi ý để bạn đối chiếu lại đoạn trích đã học trong sách. Tùy bản dịch và đoạn trích cụ thể trong sách của bạn mà bổ sung chi tiết cho khớp.
Bài 2: Tìm đọc và trả lời câu hỏi về một vở bi kịch yêu thích
Đề: Tìm đọc một số vở bi kịch của Việt Nam và thế giới. Chọn một tác phẩm em yêu thích và trả lời:
- a. Nhân vật chính trong vở kịch có phẩm chất gì?
- b. Xung đột chính trong vở kịch là gì?
- c. Chi tiết nào em thấy thú vị nhất?
Đây là bài thực hành mở, em tự chọn tác phẩm. Mình làm mẫu với vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng để em tham khảo cách trả lời:
- a. Phẩm chất nhân vật chính: Vũ Như Tô là người nghệ sĩ tài hoa, có hoài bão lớn, khao khát xây dựng một công trình nghệ thuật tuyệt mĩ (Cửu Trùng Đài) để lại cho muôn đời. Ông say mê cái đẹp đến mức quên đi thực tế đời sống của nhân dân.
- b. Xung đột chính: mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật thuần túy, cao siêu của người nghệ sĩ với quyền lợi thiết thực của nhân dân lao động. Việc xây Cửu Trùng Đài làm hao tổn tiền của, sức người, đẩy dân chúng vào lầm than, dẫn đến cái chết của Vũ Như Tô.
- c. Chi tiết thú vị nhất: lúc quân khởi loạn nổi dậy, Vũ Như Tô vẫn không tin mình có tội, vẫn muốn được phân trần về cái đẹp. Chi tiết này cho thấy bi kịch của người nghệ sĩ tách rời khỏi đời sống nhân dân – vừa đáng thương vừa đáng trách.
Em có thể thay bằng vở mình thích (Hồn Trương Ba da hàng thịt, Rô-mê-ô và Giu-li-ét, Ham-lét...) và trả lời theo cấu trúc trên.
Bài 3: Viết đoạn văn về câu chủ đề "Nhân vật bi kịch vừa có tội lại vừa không có tội"
Đề: Lấy câu "Nhân vật bi kịch vừa có tội lại vừa không có tội" làm câu chủ đề, viết một đoạn văn khoảng 10 – 12 câu.
Đoạn văn tham khảo:
Nhân vật bi kịch vừa có tội lại vừa không có tội. (1) Đây chính là đặc trưng làm nên chiều sâu nhân văn của thể loại bi kịch. (2) Nói nhân vật "có tội" bởi họ thường phạm phải sai lầm, hoặc do tính cách, hoặc do một quyết định mù quáng dẫn đến hậu quả đau xót. (3) Chẳng hạn, Vũ Như Tô vì quá say mê cái đẹp mà vô tình đẩy nhân dân vào cảnh lầm than. (4) Hay Rô-mê-ô vì nóng vội, tuyệt vọng mà tìm đến cái chết, góp phần gây nên kết cục bi thảm. (5) Tuy nhiên, ta không thể đơn giản kết tội họ, bởi sai lầm ấy thường xuất phát từ những khát vọng, tình cảm cao đẹp. (6) Vũ Như Tô có tội nhưng cũng vô tội, vì ông chỉ muốn để lại cho đời một công trình nghệ thuật bất hủ. (7) Rô-mê-ô và Giu-li-ét có lỗi nhưng cũng đáng thương, vì họ chỉ muốn được sống trọn vẹn với tình yêu chân thành. (8) Cái "tội" của nhân vật bi kịch thực ra là hệ quả của hoàn cảnh, của những xung đột không thể hóa giải trong xã hội. (9) Vì thế, người đọc vừa trách, vừa xót xa, vừa cảm thông sâu sắc cho số phận họ. (10) Chính sự giằng co giữa "có tội" và "không có tội" ấy khiến nhân vật bi kịch trở nên phức tạp và chân thực. (11) Và cũng nhờ đó, bi kịch khơi gợi trong lòng người đọc nỗi xúc động, sự thanh lọc tâm hồn sâu sắc. (12)
(Đoạn văn trên đủ 12 câu, em có thể điều chỉnh dẫn chứng theo tác phẩm đã học.)
Phần Thực hành đọc: "Âm mưu và tình yêu" (trang 140)
Đây là phần văn bản đọc thêm, không có câu hỏi bài tập, mà chỉ có định hướng đọc. Khi đọc, em cần chú ý ba vấn đề:
- Những dấu hiệu cho thấy văn bản thuộc thể loại bi kịch.
- Xung đột chính được biểu hiện trong văn bản.
- Diễn biến hành động của nhân vật Phéc-đi-năng (Ferdinand).
Tóm tắt nhanh để em định hướng đọc:
- Tác giả: Giô-han Cơ-rít-xtốp-phơ Phri-đơ-rích Si-lơ (1759 – 1805), nhà viết kịch nổi tiếng người Đức.
- Nội dung vở kịch: Thiếu tá Phéc-đi-năng (con trai Tể tướng Phôn Van-te) yêu Luy-dơ, con gái nhạc công bình dân Mi-lơ. Bất chấp sự khác biệt địa vị xã hội, chàng quyết tâm cưới nàng. Cha chàng là kẻ gian ác, dùng mọi thủ đoạn để giữ chức Tể tướng và ép con lấy Min-pho. Âm mưu, sự lừa dối và lòng đố kị đã đẩy đôi tình nhân đến cái chết bi thảm.
Định hướng trả lời ba ý chú ý:
- Dấu hiệu của thể loại bi kịch: nhân vật chính có phẩm chất tốt đẹp (tình yêu chân thành, dám vượt định kiến) nhưng rơi vào hoàn cảnh đầy âm mưu, lừa dối; kết thúc là cái chết đau thương; tạo nên sự thương cảm và thanh lọc nơi người đọc.
- Xung đột chính: mâu thuẫn giữa tình yêu trong sáng, chân thành của đôi trẻ với những âm mưu, toan tính quyền lực và sự phân biệt đẳng cấp của xã hội phong kiến (đại diện là Tể tướng Phôn Van-te).
- Diễn biến hành động của Phéc-đi-năng: từ chỗ yêu mãnh liệt, quyết bảo vệ tình yêu (dọa tố giác cha), đến chỗ bị lừa dối nên ghen tuông, tuyệt vọng, cuối cùng bí mật bỏ thuốc độc giết cả Luy-dơ và bản thân. Khi biết sự thật thì đã muộn – một kết cục bi kịch điển hình.
Bạn muốn mình phân tích sâu hơn đoạn trích Cảnh 2 (cảnh tại nhà Mi-lơ) không? Mình có thể đi vào từng lời thoại của Phéc-đi-năng để làm rõ tâm lí nhân vật.
