Giải Lịch Sử 10 trang 117

Lời giải chi tiết SGK Lớp 10 · Môn Lịch Sá»­ · Trang 117–118

Tóm tắt lý thuyết

Tín ngưỡng – tôn giáo

  • Đạo giáo có vị trí nhất định, các triều đại cho xây đạo quán (Khai Nguyên thời Lý; Trấn Vũ, Bích Câu, Huyền Thiên thời Lê trung hưng).
  • "Tam giáo đồng nguyên" (Nho – Phật – Đạo cùng tồn tại, hòa hợp) là đặc điểm nổi bật thời Lý – Trần. Nhà Lý mở khoa thi Tam giáo; xuất hiện chùa thờ cả Phật và Thánh.
  • Công giáo du nhập từ năm 1533 (vùng ven biển Nam Định). Giữa thế kỉ XVII có khoảng 340 nhà thờ và 350 000 tín đồ.

Giáo dục và khoa cử

  • Bắt đầu từ thời Lý, quy củ hơn thời Trần, thịnh đạt từ thời Lê sơ.
  • Lê sơ tổ chức 26 khoa thi, lấy gần 1 000 tiến sĩ và 20 trạng nguyên. Triều Mạc ba năm một khoa thi (1529–1592), lấy 484 tiến sĩ.
  • Nhiều người đỗ đạt thành nhà văn hóa lớn: Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn…
  • Chính sách khuyến học: lễ xướng danh, vinh quy bái tổ (1442); dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu (1484); nhà Nguyễn đặt quan Đốc học ở mỗi tỉnh.

Chữ viết

  • Chữ Hán là văn tự chính thức.
  • Chữ Nôm sáng tạo trên cơ sở chữ Hán, dùng rộng rãi từ thế kỉ XIII.
  • Chữ Quốc ngữ xuất hiện từ đầu thế kỉ XVII (cùng sự du nhập Công giáo).

Văn học

  • Gồm văn học dân gian và văn học viết, phong phú, đa dạng.

Câu hỏi giữa bài (sau phần tôn giáo)

Đề: Hãy cho biết một số nét nổi bật trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của văn minh Đại Việt.

Trả lời:

  • Tín ngưỡng dân gian được duy trì: thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ các anh hùng dân tộc, thờ Mẫu, thờ tổ nghề…
  • Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo cùng tồn tại và hòa hợp, tạo nên hiện tượng "Tam giáo đồng nguyên", nổi bật thời Lý – Trần.
  • Phật giáo phát triển mạnh thời Lý – Trần (vua, quý tộc sùng Phật; Phật hoàng Trần Nhân Tông lập thiền phái Trúc Lâm).
  • Nho giáo ngày càng được đề cao, đặc biệt từ thời Lê sơ, trở thành hệ tư tưởng chính thống.
  • Công giáo du nhập từ năm 1533 và dần lan rộng ở các đô thị, vùng ven biển.

Câu hỏi cuối mục d (sau Hình 13)

Câu 1

Đề: Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, nền giáo dục, khoa cử của Đại Việt có điểm gì nổi bật?

Trả lời:

  • Giáo dục, khoa cử được triển khai từ thời Lý, ngày càng quy củ thời Trần và phát triển thịnh đạt từ thời Lê sơ.
  • Tổ chức thi cử đều đặn để tuyển chọn nhân tài: Lê sơ có 26 khoa thi, lấy gần 1 000 tiến sĩ, 20 trạng nguyên; triều Mạc ba năm một khoa.
  • Nội dung học và thi chủ yếu là Nho học.
  • Nhiều nhà khoa bảng trở thành danh nhân văn hóa lớn của dân tộc (Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn…).
  • Có nhiều chính sách khuyến khích giáo dục: lễ xướng danh, vinh quy bái tổ, dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu, đặt quan Đốc học ở các tỉnh.

Câu 2

Đề: Theo em, vì sao các vương triều Đại Việt quan tâm đến giáo dục, khoa cử?

Trả lời:

  • Để đào tạo và tuyển chọn nhân tài, quan lại có học vấn phục vụ bộ máy nhà nước.
  • Nhằm củng cố, xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền vững mạnh.
  • Đề cao Nho giáo, dùng tư tưởng Nho giáo để quản lí xã hội, ổn định trật tự.
  • Khích lệ tinh thần học tập, nâng cao dân trí và tôn vinh người tài, tạo động lực phấn đấu cho dân.
  • Khẳng định nền văn hiến lâu đời và tự chủ của dân tộc.

Em cần thầy mở rộng thêm phần văn học (sang trang sau) thì gửi tiếp ảnh nhé!

Chế độ đọc sách →