Giải Ngữ Văn 10 - Tập 1 trang 61

Lời giải chi tiết SGK Lớp 10 · Môn Ngữ Văn · Trang 61–62

Tóm tắt lý thuyết (khung bên phải trang 60)

Khung kiến thức nhắc em phân biệt hai hiện tượng dễ nhầm:

  • Lỗi trật tự từ: trong giao tiếp thông thường, các từ trong câu phải được sắp xếp theo đúng quy tắc ngữ pháp. Nếu sai trật tự thì câu mắc lỗi.
  • Ví dụ câu sai: "Bài thơ đã thi vị miêu tả khung cảnh mùa xuân làng quê."
  • Sửa lại: "Bài thơ đã miêu tả khung cảnh mùa xuân làng quê một cách thi vị." hoặc "Bài thơ đã thi vị hoá khung cảnh mùa xuân làng quê."
  • Biện pháp tu từ đảo ngữ: trong văn học, nhà văn cố ý thay đổi trật tự từ để tăng hiệu quả biểu đạt. Đây là dụng ý nghệ thuật, không phải lỗi.
  • "Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa" (Nguyễn Du, Truyện Kiều).
  • "Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu / Lả lả cành hoang, nắng trở chiều" (Xuân Diệu, Thơ duyên).

Cách khắc phục lỗi: nắm vững quy tắc ngữ pháp, hiểu mục đích giao tiếp và thường xuyên luyện tập dùng tiếng Việt.

Bài tập 2 (các câu d, e, g, h, i): Phát hiện và sửa lỗi

Đây là phần tiếp nối của bài tập yêu cầu phát hiện lỗi dùng từ / trật tự từ và sửa lại. Cô chép lại từng câu và đề xuất cách sửa:

CâuCâu gốcLỗiCách sửa
dRất nhiều hình ảnh đời thường xuất hiện trong thơ hai-cư Nhật Bản.Câu ổn về ngữ pháp; nếu muốn nhấn chủ thể có thể đảo lại cho rõ chủ ngữ."Trong thơ hai-cư Nhật Bản xuất hiện rất nhiều hình ảnh đời thường."
eThơ Đường luật mặc dù chặt chẽ bố cục nhưng vẫn có những khoảng trống liên tưởng khơi gợi.Sai trật tự từ ở cụm "chặt chẽ bố cục"."Thơ Đường luật mặc dù chặt chẽ về bố cục nhưng vẫn có những khoảng trống liên tưởng khơi gợi."
gĐiều làm thích thú người đọc ở bài thơ này là cách độc đáo gieo vần.Sai trật tự từ ở "cách độc đáo gieo vần" và "làm thích thú người đọc"."Điều làm người đọc thích thú ở bài thơ này là cách gieo vần độc đáo."
hTrong bài thơ Tiếng thu, đóng vai trò quan trọng là các từ láy tượng thanh.Câu có cấu trúc đảo, dễ gây trúc trắc; nên trả lại trật tự thông thường."Trong bài thơ Tiếng thu, các từ láy tượng thanh đóng vai trò quan trọng."
iNhà thơ cho phép thơ lãng mạn giải phóng cảm xúc của mình một cách rất phóng khoáng.Dùng từ chưa chuẩn: "cho phép thơ lãng mạn" gây mơ hồ về chủ thể."Nhà thơ lãng mạn giải phóng cảm xúc của mình một cách rất phóng khoáng."

Lý do chung: các lỗi ở đây phần lớn là lỗi trật tự từ (đặt sai vị trí của bổ ngữ, định ngữ). Khi sửa, em đưa định ngữ về đúng sau danh từ trung tâm ("cách gieo vần độc đáo", "chặt chẽ về bố cục") và đặt chủ ngữ – vị ngữ theo trật tự tự nhiên để câu sáng nghĩa.

Bài tập 3

Đề: Phát hiện các lỗi dùng từ và trật tự từ (nếu có) trong đoạn văn đã viết theo yêu cầu của phần Kết nối đọc – viết.

Hướng dẫn cách làm:

  • Đọc lại đoạn văn em đã viết, gạch chân những chỗ đọc lên thấy "vướng".
  • Tự kiểm tra theo ba câu hỏi:
  1. Từ này đã dùng đúng nghĩa, đúng phong cách chưa? (lỗi dùng từ)
  2. Các thành phần câu đã đặt đúng trật tự ngữ pháp chưa? (lỗi trật tự từ)
  3. Có lặp từ, thừa từ không?
  • Ghi lại từng lỗi thành bảng: câu mắc lỗi – loại lỗi – câu sửa.

Vì đây là đoạn văn do chính em viết nên không có đáp án cố định; cô gợi ý quy trình để em tự rà soát.

Bài tập 4

Đề: Sưu tầm các trường hợp vi phạm lỗi dùng từ và trật tự từ trong một số văn bản báo chí. Phân tích lỗi và đưa ra phương án sửa lỗi.

Hướng dẫn:

  • Tìm trên báo (giấy hoặc điện tử) những câu tít, câu trong bài đọc lên thấy tối nghĩa hoặc sai trật tự.
  • Trình bày theo mẫu:
Câu sưu tầmNguồnPhân tích lỗiCâu sửa
(chép nguyên câu)(tên báo, ngày)Lỗi gì, vì sao saiCâu đã chỉnh

Ví dụ minh hoạ để em hình dung:

  • Câu sai: "Nhiều giải pháp đã được triển khai nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm một cách quyết liệt."
  • Lỗi: trật tự từ – cụm "một cách quyết liệt" đặt sai chỗ, khiến nó như bổ nghĩa cho "ô nhiễm".
  • Sửa: "Nhiều giải pháp đã được triển khai quyết liệt nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm."

Phần VIẾT (trang 61): Viết văn bản nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ

Tóm tắt yêu cầu của kiểu bài

Bài nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm thơ không phải là bài phát biểu cảm nhận đơn thuần. Kiểu bài này đòi hỏi:

  • Lập luận chặt chẽ, luận điểm sáng rõ, sắc nét.
  • Bố cục mạch lạc.
  • Người viết nắm chắc tri thức về đặc trưng thi ca để phân tích, đánh giá thuyết phục.
  • Vẫn khuyến khích thể hiện rung cảm và tưởng tượng riêng khi chiếm lĩnh bài thơ.

Ba yêu cầu cụ thể cần đạt

  1. Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ được chọn: tác giả, hoàn cảnh ra đời, khuynh hướng / trào lưu văn học gắn với bài thơ, lí do chọn bài thơ.
  2. Chỉ ra và phân tích những nét đặc sắc, độc đáo: từ ngữ, hình ảnh, cách tổ chức nhịp điệu, nhạc điệu, cách liên kết mạch cảm xúc và hình ảnh.
  3. Đánh giá giá trị của bài thơ về phương diện nghệ thuật và ý nghĩa nhân sinh.

Bài viết tham khảo: "Những điệu xanh của mùa xuân"

Đây là bài đọc Mùa xuân xanh của Nguyễn Bính. Phần mở đầu giới thiệu:

  • Nguyễn Bính được mệnh danh là "thi sĩ của mùa xuân" trong phong trào Thơ mới (1932 – 1945).
  • Theo thống kê của Đỗ Anh Vũ: trong 271 bài thơ trước 1945, có 35 bài trực tiếp nhắc đến mùa xuân, 41 bài nhắc đến chữ Tết.
  • Mùa xuân xanh thuộc mảng thơ xuân tươi tắn, hồn hậu; bài thơ nhỏ gọn, giản dị mà toát lên sức sống phơi phới và nét tình tứ đậm chất "chân quê".

Em hãy đọc tiếp phần phân tích ở các trang sau để học cách triển khai luận điểm theo đúng ba yêu cầu trên nhé.

Nếu em gửi thêm trang 62 (phần tiếp của bài viết tham khảo), cô sẽ phân tích chi tiết cách tác giả bài viết mẫu xây dựng luận điểm cho em học theo.

Chế độ đọc sách →