Giải Ngữ Văn 12 - Tập Hai trang 67
Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 67–68
Mình lưu ý một chút nhé: đề bài ghi là trang 67–68, nhưng ảnh thực tế hiển thị số trang là 64 và 65. Vì vậy mình sẽ giải đúng theo nội dung trong ảnh và đặt header khớp với trang ảnh.
Hai trang này chủ yếu là phần Tri thức ngữ văn (lý thuyết) và phần mở đầu Văn bản 1, chưa có bài tập nào để giải. Mình sẽ tóm tắt và hệ thống lại kiến thức cho bạn dễ nắm.
Trang 64: Tri thức ngữ văn
1. Dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
| Loại dữ liệu | Cách thu thập | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Dữ liệu sơ cấp | Người viết thu thập trực tiếp qua quan sát, phỏng vấn, điều tra, thí nghiệm... | Tồn tại dưới dạng ghi chép, nhật kí, số liệu khảo sát, bản vẽ, ảnh chụp hiện trường. Có giá trị thực tiễn cao, nhưng có thể hàm chứa thiên kiến của người thu thập. |
| Dữ liệu thứ cấp | Khai thác gián tiếp, sử dụng lại nguồn thông tin đã có từ trước | Cho cái nhìn đa dạng, nhiều chiều hơn, nhưng độ tin cậy phụ thuộc vào nguồn gốc. |
Cách nhớ nhanh: sơ cấp = tự mình làm ra (trực tiếp); thứ cấp = dùng lại của người khác (gián tiếp).
2. Tính cập nhật, độ tin cậy của dữ liệu
Để đánh giá dữ liệu trong văn bản thông tin, người đọc có thể:
- Thẩm định nguồn dữ liệu: Ai cung cấp? Người đó có đủ thẩm quyền, uy tín không? Công bố ở đâu, khi nào, qua kênh nào?
- Đánh giá tính logic trong cách trình bày: Dữ liệu đưa ra theo trình tự nào? Các dữ liệu có tương hợp với nhau không?
- Phân biệt sự thật và ý kiến:
- Sự thật: số liệu, ví dụ, trích dẫn, câu chuyện thực tế — khách quan, đo lường và kiểm chứng được.
- Ý kiến: đánh giá, nhận định mang tính chủ quan — khó xác minh.
- Suy luận để nhận ra thiên kiến của tác giả: tìm từ ngữ thể hiện cảm xúc thái quá, chi tiết bị giản lược hoá hoặc cường điệu.
- So sánh dữ liệu với các văn bản khác để tìm điểm tương đồng, khác biệt và lí giải nguyên nhân.
3. Thư từ
- Thư từ (thư nói chung) là hình thức văn bản đặc biệt, có đối tượng tiếp nhận cụ thể.
- Nhiều mục đích giao tiếp: bày tỏ tình cảm, chia sẻ trải nghiệm, cung cấp thông tin, thuyết phục, đồng tình...
- Tuỳ mục đích, một bức thư có thể là văn bản biểu cảm, tự sự, thông tin hay nghị luận.
- Đặc trưng nổi bật: thường có sự pha trộn nhiều kiểu văn bản trong cùng một bức thư.
4. Tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
- Phải tôn trọng kết quả lao động sáng tạo của người khác và biết tiếp thu, kế thừa đúng quy định, thông lệ quốc tế.
- Đây là yêu cầu bắt buộc trong học tập và nghiên cứu.
- Ý nghĩa: tạo ra sản phẩm sáng tạo chân chính và bồi dưỡng tính trung thực, niềm say mê khám phá cho người học.
Trang 65: Văn bản 1 – Pa-ra-na (Parana)
(Trích Nhiệt đới buồn – Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt / Claude Lévi-Strauss)
Câu hỏi khởi động (trước khi đọc)
Đề: Bạn biết gì về lịch sử, văn hoá của các dân tộc bản địa ở Nam Mỹ? Chia sẻ với các bạn trong lớp những hiểu biết của bạn.
Gợi ý trả lời:
- Nam Mỹ là nơi sinh sống lâu đời của nhiều dân tộc bản địa (người Anh-điêng) như người Inca, Maya (Trung Mỹ), các bộ tộc vùng rừng Amazon...
- Người Inca từng xây dựng nền văn minh rực rỡ với thành phố Machu Picchu, hệ thống đường sá, kĩ thuật canh tác bậc thang.
- Văn hoá bản địa đặc sắc: tín ngưỡng thờ thiên nhiên, nghệ thuật dệt, gốm, kiến trúc đá.
- Từ thế kỉ XV–XVI, thực dân châu Âu (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha) xâm chiếm, khiến nhiều cộng đồng bản địa bị tàn sát, mai một văn hoá.
- Ngày nay nhiều nhóm vẫn cố gìn giữ ngôn ngữ, phong tục riêng trong các vùng rừng sâu.
Tóm tắt đoạn mở đầu văn bản
Tác giả kể lần đầu tiên tiếp xúc với "những người hoang dã" trên hai bờ sông Ri-ô Ti-ba-gi (độ cao 1 000 m), khi đi theo chuyến kiểm tra của một trưởng chi nhánh cơ quan bảo vệ người Anh-điêng.
Vào thời kì phát hiện ra xứ sở này, toàn bộ khu vực nam Bra-xin là nơi trú ngụ của các nhóm người gần gũi về ngôn ngữ, văn hoá, gọi chung là người Giê (Gé). Họ bị dồn về đây bởi những kẻ xâm lược nói tiếng Tu-pi (Tupi) đã chiếm dải bờ biển. Nhờ lui vào vùng khó thâm nhập, người Giê tồn tại được vài thế kỉ, còn người Tu-pi nhanh chóng bị thực dân xoá sổ. Đến thế kỉ XX, một số nhóm nhỏ vẫn tồn tại ở Pa-ra-na và Xan-ta Ca-ta-ri-na, bị truy đuổi tàn bạo, dần hao mòn và được chính phủ Bra-xin cho định cư vào khoảng năm 1914. Làng Xao Phe-rô-ni-mô là nơi đặt cơ sở của tác giả.
Các chú thích quan trọng:
- Pa-ra-na: một bang phía nam Bra-xin, phủ rừng bách tán, một trong những rừng cận nhiệt đới quan trọng nhất thế giới.
- Giê (Gé): một nhóm người bản địa ở Bra-xin.
- Tu-pi (Tupi): một trong những cộng đồng người bản xứ lớn nhất ở Bra-xin trước thời thuộc địa, từng định cư ở rừng mưa Amazon từ khoảng 2 900 năm trước.
Hai trang này không có bài tập cần giải, chỉ là lý thuyết và phần mở đầu văn bản. Nếu bạn gửi tiếp các trang sau (phần Sau khi đọc / Trả lời câu hỏi), mình sẽ giải chi tiết từng câu cho bạn nhé.
