Giải Ngữ Văn 12 - Tập Hai trang 11
Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 11–12
Hai trang này thuộc bài học về tác gia Hồ Chí Minh, phần "Thành tựu sáng tác". Đây là phần lý thuyết, không có bài tập đánh số. Chỉ có ba câu hỏi gợi ý nhỏ in ở lề (khung màu) để học sinh suy nghĩ. Mình sẽ tóm tắt lý thuyết rồi giải đáp từng câu hỏi lề đó.
Tóm tắt lý thuyết: Thành tựu sáng tác của Hồ Chí Minh
Sáng tác của Hồ Chí Minh được chia thành ba bộ phận chính:
| Bộ phận | Đặc điểm nổi bật | Tác phẩm tiêu biểu |
|---|---|---|
| Văn chính luận | Chiếm khối lượng lớn nhất; viết để đáp ứng kịp thời yêu cầu chính trị, cách mạng; chan chứa nhiệt huyết, lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén | Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn Độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn độc lập, tự do (1966), Di chúc (1965–1969) |
| Truyện, kí | Số lượng không nhiều nhưng đặc sắc; phong cách hiện đại, giàu chất châm biếm, đả kích | Pa-ri, Lời than vãn của Bà Trưng Trắc, Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, Vừa đi đường vừa kể chuyện |
| Thơ | Thể hiện rõ nhất phẩm chất nghệ sĩ; chứa chan tình yêu nước, thương dân, phong thái ung dung | Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù), Thơ Hồ Chủ tịch |
Một số mốc cần nhớ:
- Bản án chế độ thực dân Pháp: viết bằng tiếng Pháp, bút danh Nguyễn Ái Quốc, xuất bản 1925.
- Ngục trung nhật kí: gồm 133 bài thơ chữ Hán, viết khi Bác bị chính quyền Quốc dân đảng (Trung Quốc) giam cầm, từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943.
Câu hỏi lề 1: Liên hệ những tác phẩm chính luận của Hồ Chí Minh đã được học hoặc đã đọc
Đây là câu hỏi liên hệ, mỗi bạn sẽ có vốn đọc khác nhau. Gợi ý những tác phẩm phổ biến trong chương trình:
- Tuyên ngôn Độc lập (1945) – được học chính thức trong chương trình Ngữ văn.
- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946).
- Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) – thường được trích đọc.
- Di chúc (1965–1969).
Khi trả lời, bạn nên nói rõ mình đã học hay đã đọc tác phẩm nào và ấn tượng với điều gì (ví dụ: lập luận chặt chẽ, dẫn chứng "không ai chối cãi được" trong Tuyên ngôn Độc lập).
Câu hỏi lề 2: Truyện, kí của Hồ Chí Minh chủ yếu được viết trong những khoảng thời gian nào?
Dựa trực tiếp vào văn bản, có hai mốc thời gian chính:
- Những truyện ngắn viết bằng tiếng Pháp ra đời vào những năm hai mươi của thế kỉ XX (như Pa-ri, Vi hành, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu).
- Tác phẩm kí Vừa đi đường vừa kể chuyện (kí tên T. Lan) được công bố lần đầu năm 1961 trên báo Nhân Dân.
Như vậy, truyện và kí của Hồ Chí Minh tập trung chủ yếu ở giai đoạn hoạt động cách mạng tại nước ngoài (thập niên 1920) và một phần ở giai đoạn sau này (đầu thập niên 1960).
Câu hỏi lề 3: Liên hệ những bài thơ của Hồ Chí Minh đã được học hoặc đã đọc
Cũng là câu liên hệ cá nhân. Một số bài thơ quen thuộc trong chương trình để bạn dẫn ra:
- Trích từ Nhật kí trong tù: Chiều tối (Mộ), Ngắm trăng (Vọng nguyệt), Đi đường (Tẩu lộ), Lai Tân.
- Thơ tiếng Việt thời kháng chiến: Cảnh khuya, Rằm tháng Giêng (Nguyên tiêu), Tức cảnh Pác Bó.
Khi trả lời nên gắn với cảm nhận của bản thân, chẳng hạn vẻ đẹp ung dung, hòa hợp với thiên nhiên trong Ngắm trăng hay tinh thần lạc quan trong Tức cảnh Pác Bó.
Nếu bạn gửi đúng ảnh trang 11 – 12 (phần có thể chứa bài tập luyện tập), mình sẽ giải chi tiết từng câu cho bạn nhé.
