Giải Ngữ Văn 12 - Tập Hai trang 70

Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 70–71

Mình lưu ý nhỏ với bạn: ảnh bạn gửi thực ra là trang 67 – 68 (có đánh số góc trang), nội dung thuộc văn bản "Nhiệt đới buồn" của Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt. Mình sẽ giải đúng theo nội dung trong ảnh nhé.

Tóm tắt nội dung văn bản

Đoạn trích kể lại quan sát của tác giả về người Anh điêng (người bản địa) ở Bra-xin sau khi bị thực dân bỏ mặc tự kiếm sống. Tác giả nhận thấy một "cuộc đảo ngôi kì lạ": các lối sống cổ xưa, kĩ thuật truyền thống tái xuất hiện, lấn át những sản phẩm của văn minh hiện đại.

Những chi tiết tiêu biểu:

  • Chày đá mài nhẵn nằm lẫn với đĩa sắt tráng men, cùi dìa (thìa) của cửa hàng bách hóa.
  • Người Anh điêng bỏ que diêm, quay lại dùng cái khoan lửa (xát hai mẩu gỗ).
  • Súng trường, súng lục do chính phủ phát bị treo bỏ trong nhà hoang, đàn ông đi săn bằng cung tên.

Qua đó tác giả cho thấy văn hóa nguyên thủy có sức sống bền bỉ, đồng thời phê phán nỗ lực "khai hóa" hời hợt của nhà cầm quyền.

Thông tin tác giả – tác phẩm

  • Cờ-lốt Lê-vi-Xtơ-rốt (1908 – 2009): nhà nhân học, dân tộc học, triết học người Pháp; bảo vệ sự đa dạng văn hóa, chống độc tôn văn minh phương Tây, cảnh báo nguy cơ hủy diệt thiên nhiên.
  • "Nhiệt đới buồn" (1955): tác phẩm tự truyện, du kí, ghi chép dân tộc học; viết sau hơn 20 năm khảo sát thực địa ở Bra-xin.

Bài 1: Số phận người bản địa trong lịch sử

Chép đề: Văn bản cho bạn biết những thông tin gì về số phận của người bản địa trong lịch sử? Nêu nhận xét về những thông tin đó.

Gợi ý trả lời:

Những thông tin về số phận người bản địa (người Anh điêng):

  • Bị thực dân "phó mặc tự kiếm sống", sống lẫn lộn giữa văn hóa hiện đại và nguyên thủy.
  • Được phát các sản phẩm văn minh (súng, diêm, đồ kim loại) nhưng họ không dùng, quay về kĩ thuật cổ xưa (cung tên, khoan lửa).
  • Sống trong những ngôi làng bỏ hoang, mái nhà đổ rụi, một số bộ lạc vẫn còn hoang dã, hiếu chiến.

Nhận xét: Đây là số phận của một cộng đồng bị đẩy ra bên lề, là nạn nhân của chính sách thực dân nửa vời. Họ không thực sự được "khai hóa" mà bị bỏ rơi, dẫn đến sự mai một, suy tàn của cộng đồng. Thông tin cho thấy bi kịch của người bản địa trước làn sóng xâm lấn của văn minh phương Tây.

Bài 2: Dữ liệu về cuộc sống người bản địa và quan hệ với thực dân

Chép đề: Thông tin về cuộc sống của người Giê dưới chế độ thực dân được triển khai qua những dữ liệu nào? Từ những dữ liệu đó, bạn có nhận xét gì về mối quan hệ giữa chính quyền thực dân và những người da đỏ bản xứ?

Gợi ý trả lời:

Các dữ liệu được triển khai:

  • Đồ vật quan sát trực tiếp: chày đá, đĩa sắt tráng men, cùi dìa, bộ xương khung máy khâu, súng trường, súng lục bị bỏ treo.
  • Tập quán sinh hoạt: dùng khoan lửa thay diêm, đi săn bằng cung tên.
  • Khung cảnh: làng bỏ hoang, mái nhà đổ rụi, đường mòn trong rừng.

Nhận xét về mối quan hệ:

  • Đó là mối quan hệ áp đặt, hời hợt và thất bại. Chính quyền thực dân chỉ phân phát sản phẩm văn minh một cách hình thức ("che phủ sơ sài bởi những nỗ lực của nhà cầm quyền") rồi bỏ mặc.
  • Người bản địa không tiếp nhận, mà âm thầm trở về với truyền thống. Quan hệ thiếu sự thấu hiểu, tôn trọng văn hóa bản địa, thể hiện sự thất bại của tham vọng đồng hóa.

Bài 3: Vai trò của người trần thuật xưng "tôi"

Chép đề: Phân tích vai trò của người trần thuật xưng "tôi" trong văn bản.

Gợi ý trả lời:

  • Người trần thuật xưng "tôi" chính là nhà nhân học – tác giả, người trực tiếp khảo sát thực địa ("những chiếc chày đá... tôi đã tìm thấy").
  • Vai trò:
  • Tạo tính chân thực, đáng tin: mọi thông tin đều là quan sát trực tiếp, mắt thấy tai nghe.
  • Tạo điểm nhìn vừa khách quan (ghi chép tỉ mỉ của nhà khoa học) vừa chủ quan (suy tư, trăn trở của con người trước số phận văn hóa).
  • Dẫn dắt người đọc đồng hành cùng tác giả trong hành trình khám phá và suy ngẫm.
  • Nhờ ngôi "tôi", văn bản kết hợp được đặc trưng của thể du kí, tự truyện và ghi chép dân tộc học.

Bài 4: Dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp

Chép đề: Các dữ liệu được cung cấp trong văn bản là dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? Giá trị của các dữ liệu đó là gì?

Gợi ý trả lời:

  • Đây chủ yếu là dữ liệu sơ cấp, vì do chính tác giả trực tiếp thu thập trong quá trình khảo sát thực địa ở Bra-xin (quan sát đồ vật, tập quán, không gian sống của người bản địa).
  • Giá trị:
  • Tính xác thực, độ tin cậy cao do là quan sát trực tiếp.
  • Tính sinh động, cụ thể, giàu sức gợi.
  • Là tư liệu quý về một nền văn hóa đang đứng trước nguy cơ bị hủy hoại, có giá trị khoa học (dân tộc học) và nhân văn lâu dài.

Bài 5: Lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả

Chép đề: Hãy cho biết lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản. Bằng cách nào bạn nhận ra điều đó?

Gợi ý trả lời:

Lập trường, quan điểm, thái độ:

  • Trân trọng, đề cao giá trị của văn hóa nguyên thủy, bản địa (ca ngợi chày đá "mài nhẵn tuyệt đẹp", sự bền bỉ của kĩ thuật cổ xưa).
  • Phê phán chính sách thực dân nửa vời, sự độc tôn của văn minh phương Tây.
  • Trăn trở, xót xa trước nguy cơ mai một của các nền văn hóa.

Cách nhận ra:

  • Qua từ ngữ, hình ảnh giàu cảm xúc: "trầm tư", "sai lầm khi quên mất sự gần gũi sống động".
  • Qua cách lựa chọn, sắp xếp dữ liệu (đặt sản phẩm văn minh bị bỏ rơi bên cạnh kĩ thuật cổ xưa được ưa chuộng) để làm nổi bật "cuộc đảo ngôi kì lạ".
  • Qua giọng điệu suy tư, chiêm nghiệm xuyên suốt văn bản.

Bài 6: Thông điệp của văn bản

Chép đề: Thông điệp bạn nhận được từ văn bản là gì? Đặt trong bối cảnh ra đời của văn bản, theo bạn, thông điệp đó có ý nghĩa gì?

Gợi ý trả lời:

Thông điệp:

  • Cần tôn trọng và bảo vệ sự đa dạng văn hóa; không có nền văn hóa nào "cao" hay "thấp" hơn nền văn hóa khác.
  • Văn minh hiện đại không nên áp đặt, đồng hóa và hủy diệt các nền văn hóa bản địa.

Ý nghĩa trong bối cảnh ra đời:

  • Tác phẩm viết giữa thế kỉ XX (1955), thời kì chủ nghĩa thực dân và quan niệm "văn minh phương Tây là trung tâm" còn thống trị.
  • Thông điệp mang tính phản tỉnh, cảnh báo sâu sắc, đi trước thời đại; góp phần thức tỉnh ý thức bảo vệ sự đa dạng văn hóa và quyền của các dân tộc bản địa. Đến nay thông điệp vẫn còn nguyên giá trị.

Kết nối đọc – viết

Chép đề: Văn bản gợi cho bạn suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa văn minh và hoang dã? Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn.

Đoạn văn tham khảo:

Văn bản "Nhiệt đới buồn" khiến tôi nhận ra mối quan hệ giữa văn minh và hoang dã không hề đơn giản như cách con người vẫn quen nghĩ. Chúng ta thường mặc định văn minh là tiến bộ, còn hoang dã là lạc hậu cần bị xóa bỏ. Nhưng hình ảnh người Anh điêng quay về với cung tên, khoan lửa, bỏ mặc súng đạn và diêm đã cho thấy mỗi nền văn hóa đều có giá trị và sức sống riêng. "Hoang dã" không đồng nghĩa với thấp kém, mà là một cách tồn tại hài hòa với thiên nhiên đã được tích lũy qua bao đời. Sự áp đặt thô bạo của văn minh chỉ tạo ra những ngôi làng đổ nát và những cộng đồng bị bỏ rơi. Vì thế, tôi cho rằng văn minh và hoang dã nên được nhìn nhận bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Bảo vệ sự đa dạng văn hóa cũng chính là bảo vệ sự phong phú trong tâm hồn nhân loại. (khoảng 170 chữ)

Bạn có thể rút gọn lại còn đúng 150 chữ và thêm trải nghiệm cá nhân để bài viết tự nhiên hơn nhé. Nếu cần mình giải thêm phần nào, cứ nói với mình.

Chế độ đọc sách →