Giải Ngữ Văn 12 - Tập Hai trang 71
Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 71–72
Trước hết mình lưu ý nhỏ với bạn nhé: hai trang ảnh bạn gửi thực chất được đánh số 68 và 69 (không phải 71–72), nên mình giữ đúng số trang in trên sách để bạn dễ đối chiếu.
Tóm tắt phần lý thuyết / nội dung trang
Trang 68 là phần cuối văn bản về tác giả Cờ-lốt Lê-vi–Xtơ-rốt và tác phẩm Nhiệt đới buồn:
- Cờ-lốt Lê-vi–Xtơ-rốt (1908 – 2009) là nhà nhân học, dân tộc học, triết học người Pháp. Tư tưởng của ông chống lại sự độc tôn của văn minh phương Tây, bảo vệ sự đa dạng văn hoá và cảnh báo nguy cơ huỷ diệt thiên nhiên.
- Nhiệt đới buồn (1955) vừa là tự truyện, du kí, vừa là ghi chép dân tộc học, được viết sau hai mươi năm khảo sát thực địa ở Bra-xin. Tác phẩm đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên và bản chất, lịch sử của nhân loại.
Trang 69 mở đầu Văn bản 2 – Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục (Nguyễn Nam): Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập năm 1907 ở Hà Nội, là sự tích hợp thành tựu cải cách giáo dục Đông – Tây cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Giáo dục khai phóng hướng tới cung cấp nền tảng tri thức rộng mở để tư duy phản biện, lập luận, phân tích và biểu đạt rõ ràng.
Dưới đây mình giải chi tiết hệ thống câu hỏi sau khi đọc văn bản Nhiệt đới buồn (trang 68).
Bài 1: Số phận người bản địa trong lịch sử
Đề: Văn bản cho bạn biết những thông tin gì về số phận của người bản địa trong lịch sử? Nêu nhận xét về những thông tin đó.
Gợi ý trả lời:
- Người bản địa (người da đỏ, người Anh điêng) từng là chủ nhân lâu đời của vùng đất, sống gắn bó với thiên nhiên và có nền văn hoá riêng độc đáo.
- Khi thực dân phương Tây xâm nhập, họ rơi vào số phận bi thảm: bị xua đuổi, bị tước đoạt đất đai, bị bóc lột, bị áp đặt lối sống xa lạ; dân số suy giảm nhanh chóng vì bệnh dịch, lao dịch và bạo lực.
- Nền văn hoá bản địa đứng trước nguy cơ bị huỷ hoại, mai một.
Nhận xét: Đây là những thông tin đau xót, cho thấy mặt trái của quá trình "khai hoá" thực dân. Văn minh phương Tây đã không mang lại tiến bộ mà huỷ diệt cả con người lẫn văn hoá bản địa. Thông tin được trình bày khách quan nhưng thấm đẫm sự xót thương và phê phán.
Bài 2: Cuộc sống người Giê dưới chế độ thực dân
Đề: Thông tin về cuộc sống của người Giê dưới chế độ thực dân được triển khai qua những dữ liệu nào? Từ những dữ liệu đó, bạn có nhận xét gì về mối quan hệ giữa chính quyền thực dân và những người da đỏ bản xứ?
Gợi ý trả lời:
Các dữ liệu được dùng để triển khai:
- Quan sát trực tiếp của tác giả về đời sống thường ngày, nơi ở, sinh hoạt của người Giê.
- Những ghi chép về chính sách của chính quyền thực dân: dồn dân, kiểm soát, áp đặt.
- So sánh giữa trạng thái trước và sau khi có sự can thiệp của thực dân (suy giảm dân số, đời sống nghèo khổ, mất bản sắc).
Nhận xét về mối quan hệ: Đó là mối quan hệ bất bình đẳng, mang tính áp bức và bóc lột. Chính quyền thực dân giữ vai trò kẻ thống trị, coi người da đỏ là đối tượng để quản lí, khai thác chứ không tôn trọng như những con người bình đẳng. Hậu quả là người bản xứ ngày càng lệ thuộc, suy kiệt và đánh mất văn hoá gốc.
Bài 3: Vai trò của người trần thuật xưng "tôi"
Đề: Phân tích vai trò của người trần thuật xưng "tôi" trong văn bản.
Gợi ý trả lời:
- "Tôi" chính là tác giả Lê-vi–Xtơ-rốt, đồng thời là nhà nhân học trực tiếp khảo sát thực địa. Vì vậy, "tôi" là người trần thuật ngôi thứ nhất, người trong cuộc.
- Vai trò:
- Tăng tính chân thực, đáng tin cậy: những điều kể ra là chứng kiến, trải nghiệm trực tiếp chứ không phải nghe lại.
- Thể hiện điểm nhìn khoa học kết hợp cảm xúc cá nhân: vừa quan sát tỉ mỉ, khách quan của nhà nhân học, vừa bộc lộ sự suy tư, day dứt của một nhà triết học, một con người.
- Tạo sự kết nối, đồng cảm với người đọc: qua "tôi", người đọc như cùng trải nghiệm hành trình và chia sẻ những trăn trở về số phận người bản địa.
Bài 4: Dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp
Đề: Các dữ liệu được cung cấp trong văn bản là dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp? Giá trị của các dữ liệu đó là gì?
Gợi ý trả lời:
- Phần lớn là dữ liệu sơ cấp: do chính tác giả thu thập qua quá trình khảo sát thực địa, quan sát, ghi chép trực tiếp trong suốt nhiều năm ở Bra-xin.
- Bên cạnh đó có thể có một số dữ liệu thứ cấp (tư liệu lịch sử, tài liệu tham khảo) để đối chiếu, bổ sung.
Giá trị:
- Tính xác thực, độ tin cậy cao vì xuất phát từ trải nghiệm trực tiếp.
- Tính cụ thể, sinh động, giàu sức thuyết phục.
- Có giá trị tư liệu khoa học cho ngành nhân học, dân tộc học và giá trị cảnh báo về việc bảo vệ văn hoá bản địa, thiên nhiên.
Bài 5: Lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả
Đề: Hãy cho biết lập trường, quan điểm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản. Bằng cách nào bạn nhận ra điều đó?
Gợi ý trả lời:
Lập trường, quan điểm, thái độ:
- Phê phán mặt trái của văn minh phương Tây và chế độ thực dân đã huỷ hoại văn hoá bản địa và thiên nhiên.
- Trân trọng, đề cao sự đa dạng văn hoá; bênh vực người bản địa.
- Lo âu, xót thương trước nguy cơ huỷ diệt của các nền văn hoá và môi trường.
Cách nhận ra:
- Qua việc lựa chọn dữ liệu, sự kiện (tập trung vào số phận bi thảm của người bản địa).
- Qua giọng điệu trần thuật: vừa khách quan của nhà khoa học, vừa thấm đẫm cảm xúc, suy tư.
- Qua các từ ngữ, hình ảnh bộc lộ thái độ và những lời bình luận, đánh giá trực tiếp của người trần thuật xưng "tôi".
Bài 6: Thông điệp của văn bản
Đề: Thông điệp bạn nhận được từ văn bản là gì? Đặt trong bối cảnh ra đời của văn bản, theo bạn, thông điệp đó có ý nghĩa gì?
Gợi ý trả lời:
Thông điệp:
- Cần tôn trọng và bảo vệ sự đa dạng văn hoá, đặc biệt là văn hoá của các dân tộc bản địa.
- Cần nhìn lại mặt trái của cái gọi là "văn minh, tiến bộ"; văn minh không có quyền huỷ diệt các nền văn hoá khác và thiên nhiên.
- Con người phải sống hài hoà với thiên nhiên.
Ý nghĩa trong bối cảnh ra đời (giữa thế kỉ XX, khi chủ nghĩa thực dân vẫn còn ảnh hưởng và quá trình hiện đại hoá đang tăng tốc):
- Thông điệp mang tính cảnh tỉnh sớm và sâu sắc, đi trước thời đại.
- Đến nay vẫn còn nguyên giá trị khi nhân loại đối mặt với mất bản sắc văn hoá, bất bình đẳng và khủng hoảng môi trường.
Bài 7: Kết nối đọc – viết
Đề: Văn bản gợi cho bạn suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa văn minh và hoang dã? Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn.
Đoạn văn tham khảo (khoảng 150 chữ):
Đọc Nhiệt đới buồn, tôi nhận ra ranh giới giữa "văn minh" và "hoang dã" không rạch ròi như người ta vẫn nghĩ. Lâu nay, văn minh phương Tây tự cho mình quyền khai hoá những vùng đất bị gọi là hoang dã, nhưng chính quá trình ấy lại huỷ diệt văn hoá bản địa và thiên nhiên. Như vậy, sự tàn nhẫn nhiều khi không thuộc về người "hoang dã" mà nằm trong tham vọng của kẻ tự xưng văn minh. Theo tôi, văn minh thực sự phải biết tôn trọng sự khác biệt, biết chung sống hài hoà với thiên nhiên và các nền văn hoá khác, chứ không phải áp đặt và đồng hoá. Thông điệp của Lê-vi–Xtơ-rốt nhắc nhở mỗi người: tiến bộ chỉ có ý nghĩa khi không đánh đổi bằng sự huỷ hoại con người và môi trường. Đó cũng là bài học vẫn còn nguyên giá trị với thế giới hôm nay.
(khoảng 165 chữ – bạn có thể rút gọn cho đúng yêu cầu)
Chuẩn bị cho Văn bản 2 (trang 69)
Đây là phần khởi động, chỉ có câu hỏi gợi mở, mình hướng dẫn ý để bạn chuẩn bị:
Yêu cầu: Chia sẻ những hiểu biết của bạn về giáo dục khai phóng.
Gợi ý:
- Giáo dục khai phóng (liberal education) hướng tới phát triển con người toàn diện, không chỉ đào tạo nghề.
- Cung cấp nền tảng tri thức rộng (khoa học tự nhiên, xã hội, nhân văn, nghệ thuật).
- Rèn tư duy phản biện, năng lực lập luận, phân tích và biểu đạt.
- Giúp người học chủ động ứng phó với những thay đổi khó lường của tương lai.
- Ở Việt Nam, tinh thần khai phóng từng được thể hiện sớm qua phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907).
Hai chỉ dẫn đọc bên lề trang 69 cũng rất quan trọng, bạn nhớ thực hiện khi đọc văn bản:
- Đọc lướt nhan đề, sa-pô, đề mục, chữ in nghiêng, in đậm để nắm chủ đề, cấu trúc, nội dung chính.
- Quan sát hình ảnh và đọc kĩ phần chú thích (bức ảnh phố Hàng Đào, Hà Nội, nơi đặt cơ sở dạy học của Đông Kinh Nghĩa Thục).
Bạn muốn mình giải tiếp toàn bộ văn bản "Giáo dục khai phóng ở Việt Nam nhìn từ Đông Kinh Nghĩa Thục" thì gửi mình ảnh các trang tiếp theo nhé.
