Giải Ngữ Văn 12 - Tập Hai trang 76

Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 76–77

Lưu ý nhỏ trước khi vào bài: ảnh em gửi hiển thị số trang là 73 – 74 (văn bản "Giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục" – Nguyễn Nam), chứ không phải 76 – 77. Cô vẫn giữ tiêu đề theo yêu cầu của em, nhưng nội dung giải dưới đây bám sát đúng trang ảnh này nhé.

Tóm tắt nội dung văn bản

Văn bản trình bày về mô hình giáo dục khai phóng của Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) qua những điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ và qua tác phẩm khuyết danh Văn minh tân học sách (1904).

Sáu điểm về mục đích – tôn chỉ giáo hoá:

  • Giảng dạy bằng ba thứ chữ: Pháp, Hán, Việt; cấp phổ thông chú trọng quốc văn thay cho Hán văn.
  • Trường chia ba cấp: Tiểu, Trung, Đại học; nhận cả nam và nữ sinh, có giáo viên nữ; học "để làm người dân", không theo lối từ chương khoa cử.
  • Dạy miễn phí, cấp cả sách vở, giấy bút.
  • Dạy khoa học và công nghệ thường thức để người dân "mưu sinh, tự tồn".
  • Mỗi tuần diễn thuyết công khai về giáo dục, khoa học.
  • Tổ chức theo hướng thực nghiệm để mở rộng ra cả ba kì.

Điểm cốt lõi nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học: khuyến khích sáng tạo, học đi đôi với thực tế, suy nghĩ cởi mở và phản biện. Tác giả khẳng định Đông Kinh Nghĩa Thục là một mốc lịch sử giáo dục quan trọng, đã tiếp nối và phát huy tinh thần khai phóng trong bối cảnh thuộc địa đầu thế kỉ XX.

Tác giả Nguyễn Nam (sinh 1961, quê Hà Tây), nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử tư tưởng, văn chương và điện ảnh Đông Á.


Bài 1: Bối cảnh lịch sử ra đời

Đề: Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời trong bối cảnh lịch sử nào?

Lời giải:

Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời vào đầu thế kỉ XX (1907), trong bối cảnh:

  • Việt Nam đang là nước thuộc địa của thực dân Pháp, chịu sự áp đặt về chính trị, kinh tế, văn hoá.
  • Nền giáo dục cũ theo lối học từ chương, khoa cử Hán học đã lỗi thời, kìm hãm tâm trí người dân suốt hàng nghìn năm.
  • Thế giới đầu thế kỉ XX đang biến động phức tạp, các trào lưu tư tưởng mới, văn minh phương Tây (châu Âu) lan rộng, đặt ra yêu cầu canh tân đất nước.
  • Xuất hiện khát vọng đổi mới giáo dục, mở mang dân trí để cứu nước, hoà nhập với thế giới hiện đại.

Chính trong hoàn cảnh đó, Đông Kinh Nghĩa Thục được lập ra như một thử nghiệm giáo dục tiến bộ, sẵn sàng mở rộng khắp ba kì.

Bài 2: Điểm nhấn then chốt và dữ liệu chứng minh

Đề: Theo tác giả, điểm nhấn then chốt của Đông Kinh Nghĩa Thục là gì? Tác giả đã sử dụng những dữ liệu nào để làm rõ điều này?

Lời giải:

Điểm nhấn then chốt (quan trọng nhất) là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học – "cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà", học sao cho "không trái với công việc thực tế họ phải làm".

Các dữ liệu (bằng chứng) tác giả sử dụng để làm rõ:

Loại dữ liệuNội dung cụ thể
Hồi ức của nhân chứngNhững điều Giám học Nguyễn Quyền còn nhớ về sáu điểm mục đích – tôn chỉ giáo hoá
Tài liệu lịch sửTác phẩm khuyết danh **Văn minh tân học sách (1904)** – được xem là cương lĩnh giáo dục của nhà trường
Trích dẫn trực tiếpCác câu nguyên văn như "học để làm người dân", "muốn cho ai cũng có thể tới và học được", "cho phép học trò bàn bạc tha hồ..."

Việc dùng cả nhân chứng lẫn văn bản gốc và trích dẫn nguyên văn giúp thông tin chính xác, khách quan và thuyết phục.

Bài 3: Đặc điểm của giáo dục khai phóng

Đề: Giáo dục khai phóng có những đặc điểm gì? Vì sao tác giả lại cho rằng Đông Kinh Nghĩa Thục là một mô hình giáo dục khai phóng?

Lời giải:

Đặc điểm của giáo dục khai phóng thể hiện qua văn bản:

  • Tự do học thuật: cho người học bàn bạc, đối đáp tự do, không kiêng dè.
  • Đề cao thực học: học gắn với thực tế đời sống, để mưu sinh và tự tồn.
  • Khuyến khích sáng tạo, tư duy phản biện: suy nghĩ cởi mở, kiểm nghiệm điều đã học.
  • Bình đẳng và rộng mở: nhận cả nam và nữ sinh, dạy miễn phí, ai cũng có thể học.
  • Mở rộng, hoà nhập: dạy ba thứ chữ Pháp, Hán, Việt để hội nhập thế giới mà không cắt đứt căn rễ văn hoá dân tộc.

Tác giả cho rằng Đông Kinh Nghĩa Thục là mô hình giáo dục khai phóng vì nhà trường dám từ bỏ lối học từ chương, giáo điều, hướng người học vào con đường thực học, tự do tư tưởng, sáng tạo và phản biện – đúng tinh thần cốt lõi của giáo dục khai phóng. Dù chỉ tồn tại gần mười tháng và còn sơ khai, "cái dũng khí dám từ bỏ" lối cũ ấy xứng đáng được ghi nhận như một mốc lịch sử quan trọng.

Bài 4: Trình tự sắp xếp thông tin

Đề: Các thông tin trong văn bản được chọn lọc, sắp xếp theo trình tự nào? Cách sắp xếp đó có thuyết phục không? Vì sao?

Lời giải:

Trình tự sắp xếp thông tin:

  • Đi từ khái quát đến cụ thể: trước hết nêu sáu điểm mục đích – tôn chỉ (qua hồi ức Nguyễn Quyền), rồi đi vào cương lĩnh giáo dục (Văn minh tân học sách).
  • Đi từ biểu hiện cụ thể đến điểm cốt lõi: liệt kê các đặc điểm rồi nhấn mạnh "quan trọng nhất là tinh thần tự do học thuật dựa trên thực học".
  • Kết hợp trình bày – chứng minh – đánh giá: nêu sự việc, dẫn chứng cụ thể, cuối cùng khẳng định ý nghĩa, giá trị (mốc lịch sử giáo dục).

Cách sắp xếp này thuyết phục, vì:

  • Mạch trình bày logic, chặt chẽ, giúp người đọc dễ theo dõi và hiểu vấn đề.
  • Thông tin có chọn lọc, dựa trên bằng chứng đáng tin cậy (nhân chứng, văn bản gốc, trích dẫn).
  • Phần đánh giá đặt ở cuối, sau khi đã có đầy đủ luận cứ, nên kết luận có sức nặng và đáng tin.

Bài 5: Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ

Đề: Phân tích tác dụng của việc sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản.

Lời giải:

Trong văn bản có một số phương tiện phi ngôn ngữ tiêu biểu (các hộp chỉ dẫn màu, hình minh hoạ logo, cách in nghiêng tên tác phẩm, ghi rõ nguồn...).

Tác dụng:

  • Các hộp chỉ dẫn bên lề ("Chỉ ra các bằng chứng được tác giả sử dụng", "Khái quát những đặc điểm chính...", "Chú ý các từ ngữ... thể hiện thái độ, quan điểm của tác giả") định hướng cách đọc, giúp người học chú ý đúng trọng tâm, rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản thông tin.
  • In nghiêng tên tác phẩm (Văn minh tân học sách) giúp phân biệt rõ tên tài liệu được dẫn, tăng tính chính xác, khoa học.
  • Ghi rõ nguồn và ngày tháng (báo Vietnamnet, ngày 09/11/2022) làm tăng độ tin cậy, tính xác thực của thông tin.
  • Bố cục, màu sắc, hình ảnh minh hoạ tạo sự sinh động, trực quan, thu hút và hỗ trợ người đọc tiếp nhận nội dung dễ dàng hơn.

Tóm lại, phương tiện phi ngôn ngữ vừa bổ trợ cho nội dung ngôn ngữ, vừa định hướng cách đọclàm tăng tính trực quan, độ tin cậy cho văn bản thông tin.


Em muốn cô đi sâu hơn vào câu nào (ví dụ viết thành đoạn văn hoàn chỉnh cho câu 3 hoặc câu 5) thì nói nhé, cô triển khai chi tiết hơn cho.

Chế độ đọc sách →