Giải Ngữ Văn 12 - Tập Một trang 38
Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 38–39
Trên hai trang này có:
- Phần lý thuyết về ngôn ngữ nói (ví dụ trích Chí Phèo, phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư) và ngôn ngữ viết (ví dụ trích Chữ người tử tù).
- Bài tập số 2: Phân tích đặc điểm ngôn ngữ viết trong đoạn trích Vợ nhặt.
Tóm tắt lý thuyết
Hai trang phân biệt rõ hai dạng tồn tại của ngôn ngữ:
| Tiêu chí | Ngôn ngữ nói | Ngôn ngữ viết |
|---|---|---|
| Người tham gia | Tiếp xúc trực tiếp, có phản hồi tức thì | Người viết – người đọc không tiếp xúc trực tiếp |
| Phương tiện hỗ trợ | Ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ | Dấu câu, kí hiệu, hình ảnh, bảng biểu |
| Từ ngữ | Khẩu ngữ, từ địa phương, từ cảm thán ("chà", "ghê", "nhiêu") | Gọt giũa, chuẩn mực, đúng chính tả – ngữ pháp |
| Câu | Câu ngắn, hay tỉnh lược, đôi khi rườm rà | Câu có thể dài, nhiều thành phần, kết cấu phức tạp |
| Khả năng lưu trữ | Tức thời, dễ qua đi | Lưu giữ lâu dài, hướng tới phạm vi người đọc rộng |
Hai ví dụ minh họa rất đắt:
- Chí Phèo (Nam Cao) và lời phỏng vấn Nguyễn Ngọc Tư → đặc trưng ngôn ngữ nói.
- Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) → đặc trưng ngôn ngữ viết: câu dài, nhịp chậm, dụng công trau chuốt.
Bài 2: Phân tích đặc điểm ngôn ngữ viết trong đoạn trích "Vợ nhặt"
Đề bài: Phân tích các đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ viết trong đoạn trích sau (trích Vợ nhặt – Kim Lân):
"Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào. Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như ngả rạ. […] Ngã tư xóm chợ về chiều càng xác xơ, heo hút. […] Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết."
Lời giải chi tiết
1. Về hình thức tồn tại – phương tiện ngôn ngữ
Đây là văn bản viết (truyện ngắn), người đọc tiếp nhận bằng chữ viết, không có sự đối thoại trực tiếp. Nhà văn dùng dấu câu (dấu chấm, phẩy, dấu ngoặc lược […]) để ngắt nhịp, tổ chức ý thay cho ngữ điệu của lời nói.
2. Về từ ngữ
- Từ ngữ được lựa chọn, gọt giũa kĩ lưỡng, giàu sức gợi hình, gợi cảm: xanh xám, ngổn ngang, ngả rạ, xác xơ, heo hút, dật dờ, thê thiết.
- Không dùng khẩu ngữ tùy tiện hay từ cảm thán như trong ngôn ngữ nói; mỗi từ đều có dụng ý nghệ thuật, tạo ấn tượng về nạn đói.
3. Về câu và kết cấu
- Có sự kết hợp linh hoạt câu ngắn và câu dài, nhiều thành phần, đúng chuẩn ngữ pháp.
- Hệ thống so sánh trùng điệp: "xanh xám như những bóng ma", "người chết như ngả rạ", "bóng những người đói… như những bóng ma" → dựng lên không khí chết chóc, thê lương.
- Câu văn được sắp xếp có lớp lang, gợi cảnh từ xa đến gần, từ người đến vật, tạo bức tranh hoàn chỉnh.
4. Về tính lưu giữ và hướng tới người đọc
Đoạn văn mang giá trị nghệ thuật lâu bền, có thể đọc đi đọc lại, hướng tới đông đảo bạn đọc – điều mà lời nói thoáng qua không có được.
Vì sao kết luận như vậy
Tất cả các dấu hiệu trên (gọt giũa từ ngữ, câu chuẩn mực có cấu trúc phức tạp, dùng dấu câu và biện pháp tu từ, lưu giữ lâu dài) đều là đặc trưng cốt lõi của ngôn ngữ viết đã nêu ở phần lý thuyết. Vì thế đoạn trích là minh chứng tiêu biểu cho ngôn ngữ viết nghệ thuật.
Gợi ý mở rộng (liên hệ ví dụ "Chữ người tử tù")
Sách dùng đoạn Chữ người tử tù để nhấn mạnh thêm: câu văn dài, nhịp điệu chậm rãi, cách diễn đạt cầu kì ("Trên bốn chòi canh, ngục tốt cũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt…"). Em có thể dùng đoạn này làm dẫn chứng đối sánh: cả Kim Lân và Nguyễn Tuân đều khai thác triệt để thế mạnh của ngôn ngữ viết là sự trau chuốt và sức gợi của câu chữ.
Nếu em cần cô làm thêm phần phân tích đặc điểm ngôn ngữ nói trong đoạn Chí Phèo (bài 1) ở cột bên, cứ nói để cô bổ sung nhé!
