Giải Ngữ Văn 12 - Tập Một trang 59

Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 59–60

Hai trang này gồm phần cuối bài học về văn bản Nhớ đồng (Tố Hữu) và phần mở đầu văn bản 2 Tràng giang (Huy Cận). Mình sẽ tóm tắt lý thuyết và giải đáp toàn bộ câu hỏi nhé.


Phần A: Hoàn cảnh tác giả – tác phẩm "Nhớ đồng" (trang 58)

Tóm tắt nhanh:

  • Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh Nguyễn Kim Thành, quê ở Thừa Thiên Huế, được tôn vinh là "lá cờ đầu" của thơ ca cách mạng Việt Nam nửa sau thế kỉ XX.
  • Thơ ông mang đậm tính sử thi, tràn đầy niềm tin, giàu tính dân tộc, gần gũi đại chúng.
  • 7 tập thơ chính: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Ta với ta.
  • Nhớ đồng được viết khi tác giả bị giam ở nhà lao Thừa Phủ, thể hiện tâm sự của người thanh niên yêu nước khao khát tự do, nôn nóng trở về với đồng chí, đồng bào.

Bài 1: Nhan đề "Nhớ đồng" và nghĩa của từ "đồng"

Đề: Theo bạn, nhan đề Nhớ đồng đã bao quát được toàn bộ nội dung cảm xúc của bài thơ hay chưa? Vì sao? Nên hiểu như thế nào về nghĩa của từ "đồng" trong nhan đề?

Gợi ý trả lời:

  • Nhan đề đã bao quát khá trọn vẹn cảm xúc chủ đạo của bài thơ: nỗi nhớ da diết của người tù cách mạng hướng về thế giới bên ngoài song sắt.
  • Từ "đồng" mang nhiều lớp nghĩa lồng ghép:
  • Nghĩa cụ thể: cánh đồng, ruộng đồng, quê hương xứ sở với cảnh sắc, con người lao động.
  • Nghĩa mở rộng: đồng bào, đồng chí, đồng đội – những người cùng chung lí tưởng đấu tranh.
  • Chính nhờ sự đa nghĩa ấy mà nhan đề vừa gợi nỗi nhớ thiên nhiên, cuộc sống bình dị, vừa gợi nỗi nhớ con người và khát vọng hòa nhập với phong trào cách mạng. Vì vậy nhan đề bao quát được mạch cảm xúc xuyên suốt tác phẩm.

Bài 2: Đặc điểm các khổ thơ 1, 4, 7, 13

Đề: Bạn có nhận xét gì về đặc điểm hình thức và nội dung của các khổ thơ 1, 4, 7, 13 trong văn bản? Các khổ thơ này được phân bố theo "quy luật" nào?

Gợi ý trả lời:

  • Về hình thức: đây là những khổ thơ mang tính điệp khúc, lặp lại các câu hỏi tu từ và cấu trúc cú pháp tương tự (kiểu "Gì sâu bằng những trưa thương nhớ / Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!").
  • Về nội dung: các khổ này diễn tả nỗi cô đơn, hiu quạnh và nỗi nhớ thương trào dâng của người tù.
  • Quy luật phân bố: các khổ lặp lại đan xen đều đặn trong bài, tạo thành những "điểm nhấn" của cảm xúc. Chúng như nhịp điệu trở đi trở lại, vừa ngăn cách vừa liên kết các đoạn miêu tả, làm cảm xúc nhớ thương được tô đậm và lan tỏa thành mạch chủ âm của toàn bài.

Bài 3: Hệ thống hình ảnh trong bài thơ

Đề: Hệ thống hình ảnh trong bài thơ đã biểu đạt được những nội dung gì? Bạn hiểu và đánh giá như thế nào về cách tác giả đan cài, phối hợp, sắp xếp các cụm hình ảnh?

Gợi ý trả lời:

  • Hệ thống hình ảnh chia thành các nhóm chính:
  • Hình ảnh thiên nhiên, đồng quê: cồn thơm, ruồng tre, ô mạ xanh, nương khoai, gió cồn, mùi đất...
  • Hình ảnh con người lao động: bóng dáng người dân quê hiền lành, chất phác, lưng cong xuống luống cày.
  • Hình ảnh người mẹ già, người tha thiết yêu thương.
  • Hình ảnh chính bản thân nhân vật trữ tình trên hành trình tìm đến lí tưởng.
  • Cách phối hợp: tác giả đan cài giữa hình ảnh hiện thực bên ngoài (cảnh đồng quê) và thế giới nội tâm (nỗi nhớ, khát khao tự do), giữa quá khứ và hiện tại.
  • Đánh giá: cách sắp xếp ấy tạo nên sự vận động cảm xúc tự nhiên, từ nỗi nhớ cảnh vật → nhớ con người → nhớ chính mình thuở được hoạt động cách mạng, qua đó bộc lộ tâm trạng khao khát tự do và lí tưởng sống cao đẹp.

Bài 4: Vai trò của từ "đâu"

Đề: Từ "đâu" xuất hiện bao nhiêu lần và đóng vai trò gì trong cấu tứ của bài thơ?

Gợi ý trả lời:

  • Từ "đâu" được lặp lại nhiều lần (xuất hiện ở hàng loạt câu mở đầu các dòng thơ như "Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi", "Đâu ruồng tre mát thuở yên vui", "Đâu những lưng cong xuống luống cày"...).
  • Vai trò:
  • Là từ tạo nhịp điệp khúc, gắn kết các hình ảnh thành chuỗi liên tưởng.
  • Vừa mang nghĩa hỏi (đâu rồi? – gợi sự xa cách, mất mát), vừa mang sắc thái khẳng định nỗi nhớ thường trực.
  • Góp phần tạo nên cấu tứ trùng điệp, khiến nỗi nhớ trào dâng lớp lớp, càng nhắc càng da diết.

Bài 5: Tác dụng của việc luân phiên câu hỏi, câu kể, câu cảm

Đề: Phân tích tác dụng nghệ thuật của việc sử dụng luân phiên câu hỏi, câu kể và câu cảm trong văn bản.

Gợi ý trả lời:

  • Câu hỏi (tu từ): bộc lộ nỗi băn khoăn, day dứt, gợi sự khắc khoải tìm về quá khứ và quê hương.
  • Câu kể: tái hiện cụ thể cảnh vật, con người đồng quê, làm cho nỗi nhớ có hình hài, có chi tiết sinh động.
  • Câu cảm: trực tiếp giãi bày cảm xúc dâng trào, nhấn mạnh sự cô đơn và niềm thương nhớ.
  • Việc luân phiên ba kiểu câu tạo nên giọng điệu đa thanh, nhịp điệu biến hóa, vừa bộc lộ nội tâm phong phú vừa khiến mạch cảm xúc lúc lắng sâu, lúc trào dâng, tránh sự đơn điệu.

Bài 6: Hình ảnh mang tính tượng trưng rõ nét

Đề: Theo bạn, hình ảnh nào trong bài thơ mang tính tượng trưng rõ nét hơn cả? Hãy làm rõ tính tượng trưng ở hình ảnh ấy.

Gợi ý trả lời:

  • Có thể chọn hình ảnh "tiếng hò" (hoặc hình ảnh "đôi cánh chim" / con đường đi tới lí tưởng).
  • Ví dụ với "tiếng hò":
  • Đây là âm thanh quen thuộc của quê hương, gợi cả không gian đồng quê yên bình.
  • Mang tính tượng trưng cho thế giới tự do bên ngoài song sắt nhà lao, cho sự sống và tình người.
  • Tiếng hò vang lên giữa trưa hiu quạnh càng làm nổi bật sự đối lập giữa cảnh tù túng và khát vọng tự do, tượng trưng cho nỗi nhớ và niềm khao khát hòa nhập với cuộc đời rộng lớn.

(Học sinh có thể chọn hình ảnh khác miễn lí giải thuyết phục.)


Bài 7: Tâm trạng, phẩm chất, lí tưởng của nhân vật trữ tình

Đề: Bài thơ cho thấy điều gì về tâm trạng, phẩm chất, lí tưởng của nhân vật trữ tình? Nêu cảm nhận của bạn về những cảm xúc, tâm tình được tác giả bộc lộ trong bài thơ.

Gợi ý trả lời:

  • Tâm trạng: cô đơn, hiu quạnh trong cảnh tù đày; nhớ thương da diết quê hương, đồng bào, đồng chí.
  • Phẩm chất: tâm hồn nhạy cảm, gắn bó sâu nặng với quê hương và nhân dân lao động; giàu tình cảm, yêu cuộc sống.
  • Lí tưởng: khao khát tự do, nôn nóng được trở về tiếp tục hoạt động cách mạng, sống và chiến đấu vì dân tộc.
  • Cảm nhận: bài thơ là tiếng lòng chân thành, tha thiết của một người thanh niên yêu nước. Dù bị giam cầm, tâm hồn vẫn hướng về cuộc đời tự do và lí tưởng cao đẹp, khiến người đọc xúc động và trân trọng.

Kết nối đọc – viết

Đề: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các chi tiết, hình ảnh đã làm nên thế giới cảm xúc "nhớ đồng" trong bài thơ.

Đoạn văn tham khảo:

Trong Nhớ đồng, thế giới cảm xúc của người tù được dệt nên từ những chi tiết, hình ảnh tưởng chừng rời rạc nhưng lại gắn kết chặt chẽ. Tiếng hò quê hương vang lên giữa trưa hiu quạnh khơi nguồn cho dòng hồi tưởng. Từ âm thanh ấy, hàng loạt hình ảnh đồng quê hiện về: gió cồn thơm, ruồng tre mát, ô mạ xanh, nương khoai, những lưng cong xuống luống cày, dáng hình người mẹ già. Mỗi hình ảnh là một mảnh kí ức, được nối kết bằng điệp từ "đâu" và những câu hỏi tu từ trở đi trở lại, khiến nỗi nhớ cứ trào dâng lớp lớp. Chính sự đan cài giữa thiên nhiên và con người, giữa quá khứ tươi đẹp và hiện tại tù túng đã tạo nên một thế giới cảm xúc vừa tha thiết vừa day dứt. Qua đó, ta thấy một tâm hồn yêu quê hương sâu nặng và khát vọng tự do cháy bỏng. (khoảng 160 chữ)

Phần B: Văn bản 2 – "Tràng giang" (Huy Cận) – trang 59

Đây là phần mở đầu văn bản mới, gồm câu hỏi khởi động và toàn văn bài thơ. Chưa có bài tập phân tích (phần đó nằm ở trang sau).

Câu hỏi khởi động (trước khi đọc)

  1. Theo bạn, vì sao người đọc lại có thể rung động trước bài thơ được viết bởi một người xa lạ, có những trải nghiệm khác biệt với mình?

Gợi ý: Vì thơ chạm tới những cảm xúc, trải nghiệm chung của con người (nỗi cô đơn, nỗi nhớ, tình yêu thiên nhiên, quê hương...). Dù khác hoàn cảnh, người đọc vẫn tìm thấy sự đồng cảm, soi chiếu tâm trạng của mình vào tác phẩm. Sức gợi của ngôn từ, hình ảnh, nhạc điệu giúp xóa nhòa khoảng cách giữa người viết và người đọc.

  1. Bạn có cho rằng cảnh trời đất mênh mông trong buổi chiều tà thường có một ý nghĩa đặc biệt đối với tâm hồn của mỗi người? Hãy đọc một số câu thơ mà bạn biết nói về cảnh ấy, thời điểm ấy.

Gợi ý: Cảnh chiều tà mênh mông thường gợi nỗi buồn, sự cô đơn, nỗi nhớ nhà, cảm giác con người nhỏ bé trước vũ trụ. Một số câu thơ có thể nhắc đến:

  • "Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà / Cỏ cây chen đá, lá chen hoa" (Bà Huyện Thanh Quan).
  • "Chiều chiều ra đứng ngõ sau / Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều" (ca dao).
  • "Quê hương khuất bóng hoàng hôn / Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai" (bản dịch Hoàng Hạc lâu).

Toàn văn bài thơ "Tràng giang"

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài. — H.C. Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy dòng. Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều. Nắng xuống, trời lên sâu chót vót; Sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến đò ngang. Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa. Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà. (Huy Cận, Lửa thiêng, NXB Đời nay, Hà Nội, 1940)

Giải đáp các ghi chú bên lề (câu hỏi trong khi đọc)

  • "Chú ý điều được gợi mở từ câu thơ đề từ": Câu đề từ "Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" hé lộ cảm hứng chủ đạo – nỗi buồn bâng khuâng trước không gian rộng lớn, sự đối lập giữa cái mênh mông của vũ trụ và nỗi cô đơn của con người.
  • "Hình ảnh xuất hiện ở câu cuối khổ thơ có thể gợi lên những cảm nhận gì?": Hình ảnh "Củi một cành khô lạc mấy dòng" gợi cảm nhận về sự nhỏ bé, đơn độc, trôi nổi vô định của kiếp người giữa dòng đời rộng lớn.
  • "Thế nào là 'sâu chót vót'?": Đây là cách diễn đạt mới lạ, độc đáo của Huy Cận. "Chót vót" thường tả độ cao, nhưng kết hợp với "sâu" tạo cảm giác không gian được mở ra cả chiều cao lẫn chiều sâu thăm thẳm, vô tận – nhấn mạnh sự rợn ngợp của vũ trụ.
  • "Chú ý đặc điểm chính tả và ngữ âm của từ láy 'dợn dợn'": "Dợn dợn" (không phải "rờn rợn") là từ láy gợi những con sóng nhỏ liên tiếp trong lòng, diễn tả nỗi nhớ quê dâng lên từng đợt, hòa cùng nhịp sóng nước.
  • Chú thích (1): "Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" lấy ý từ câu thơ "Yên ba giang thượng sử nhân sầu" (Khói sóng trên sông khiến người buồn) trong bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu (đời Đường). Huy Cận khẳng định nỗi nhớ nhà của mình còn da diết hơn người xưa: không cần khói sóng gợi buồn mà lòng vẫn nhớ quê.

Nếu bạn cần mình phân tích sâu hơn từng khổ thơ của Tràng giang hoặc viết bài cảm nhận hoàn chỉnh, cứ nói nhé.

Chế độ đọc sách →