Giải Ngữ Văn 12 - Tập Một trang 67

Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 67–68

Hai trang này không có bài tập theo kiểu trắc nghiệm hay câu hỏi đánh số, mà chủ yếu là phần chuyển tiếp từ mục Thực hành tiếng Việt sang mục VIẾT, kèm bài viết tham khảo. Cô sẽ tóm tắt lý thuyết và giải đáp câu hỏi duy nhất xuất hiện nhé.

Phần 1: Câu hỏi cuối mục Thực hành tiếng Việt (trang 66)

Đề bài:

Xét theo định hướng thực hành tiếng Việt của bài học, theo bạn, nguyên nhân của sự biến đổi trên có thể là gì? Dựa vào bản in bài thơ năm 1939, hãy làm rõ sự sáng tạo trong cách sử dụng từ ngữ của nhà thơ ở điểm này.

Gợi ý trả lời:

Nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở chức năng mới mà nhà thơ gán cho dấu câu khi trình bày văn bản trên giấy. Dấu câu không chỉ làm nhiệm vụ ngữ pháp thông thường (ngắt câu, kết thúc câu) mà còn trở thành một phương tiện tạo nghĩa, tạo nhịp, gợi cảm xúc.

Phân tích hai ví dụ trong sách:

  • Xuân Diệu, Buồn trăng:

> Ngẩng đầu ngắm mãi chưa xong nhớ,
> Hoa bưởi thơm rồi: đêm đã khuya.

Dấu hai chấm (:) ở giữa dòng thơ không dùng để liệt kê hay giải thích như thông thường, mà tạo một quãng lặng, một bước chuyển đột ngột giữa hai trạng thái: từ hương hoa bưởi sang cảm nhận thời gian đã về khuya. Dấu câu giúp dồn nén cảm xúc và làm nổi bật sự trôi đi của thời gian.

  • Huy Cận, Thu rừng:

> Non xanh ngây cả buồn chiều,
> — Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.

Dấu gạch ngang (—) đặt đầu dòng thơ thứ hai tạo cảm giác như một lời nói chen vào, một ý nghĩ vụt đến, làm câu thơ giàu tính đối thoại và mở rộng không gian liên tưởng từ thiên nhiên sang cõi nhân gian.

Sự sáng tạo: nhà thơ đã biến dấu câu thành một yếu tố nghệ thuật, góp phần biểu đạt nội dung và cảm xúc, chứ không chỉ giữ vai trò ngữ pháp. Đây chính là điểm mới mẻ trong cách dùng từ ngữ và ký hiệu chữ viết.

Phần 2: Lý thuyết mục VIẾT (trang 66)

Tên bài: Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm thơ (Tìm hiểu cấu tứ và hình ảnh trong tác phẩm).

Trọng tâm cần nắm:

  • Khi nói về cấu tứ: phải lí giải được những điều tạo nên tính chỉnh thể của tác phẩm (cách tổ chức ý, mạch cảm xúc, logic bên trong của bài thơ).
  • Khi nói về hình ảnh: phải làm nổi bật tính chất của hệ thống hình ảnh và cách tổ chức chúng theo sự chi phối của tứ thơ.
  • Các yếu tố đặc sắc khác cũng có thể bàn đến, tùy mạch viết.

Bốn yêu cầu của kiểu bài:

STTYêu cầu
1Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ (tác giả, vị trí, lí do lựa chọn).
2Xác định rõ trọng tâm vấn đề bàn luận (cấu tứ độc đáo và sự chi phối của nó đến hệ thống hình ảnh).
3Xem xét vấn đề toàn diện theo từng khía cạnh, có lí lẽ và bằng chứng xác đáng.
4Đánh giá nét đặc sắc về cấu tứ, hình ảnh và giá trị của chúng trong việc thể hiện khám phá mới về con người và cuộc sống.

Phần 3: Bài viết tham khảo – "Bài thơ Tĩnh dạ tứ của Lý Bạch" (trang 67)

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Bích Hải (sinh 1950), quê Quảng Trị, là nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học, dịch giả, chuyên gia về văn học Trung Quốc.

Văn bản bài thơ được trích ba phần:

Phiên âm:

Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương.

Dịch nghĩa:

Ánh trăng sáng đầu giường, Ngỡ là sương mặt đất. Ngẩng đầu ngắm trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương.

Dịch thơ (Tương Như dịch):

Đầu giường ánh trăng rọi, Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương.

Ý mở đầu bài nghị luận: Tác giả lưu ý nhan đề bài thơ có hai cách đọc:

  • "Tĩnh dạ tư" nghĩa là Nỗi nhớ trong đêm thanh tĩnh.
  • "Tĩnh dạ tứ" nghĩa là Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh.

Lí do: chữ "tư" và "tứ" trong chữ Hán viết cùng một chữ. Nhưng dù đọc theo cách nào, bài thơ vẫn thuộc đề tài "nguyệt dạ tư hương" (đêm trăng nhớ quê) rất quen thuộc trong thơ Đường.

Đây là cách mở bài mẫu mực: vừa giới thiệu tác phẩm, vừa nêu một vấn đề thú vị về văn bản (cách đọc nhan đề) để dẫn dắt vào trọng tâm bàn luận. Phần phân tích cấu tứ và hình ảnh sẽ tiếp tục ở các trang sau.

Nếu em gửi tiếp trang 68 (phần phân tích chi tiết bài viết tham khảo), cô sẽ giảng tiếp nhé.

Chế độ đọc sách →