Giải Ngữ Văn 12 - Tập Một trang 85
Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 85–86
Tóm tắt phần giới thiệu tác giả – tác phẩm
- Mác-tin Lu-thơ Kinh (1929 – 1968): mục sư, nhà hoạt động nhân quyền người Mỹ gốc Phi, một trong những lãnh tụ lớn của phong trào đấu tranh bất bạo động.
- Năm 1964 ông là người trẻ tuổi nhất nhận giải Nô-ben Hòa bình.
- Tôi có một ước mơ là bài diễn văn nổi tiếng nhất, phát biểu ngày 28/8/1963 tại đài tưởng niệm Tổng thống Lin-côn, nói về ước mơ người da trắng và da đen chung sống bình đẳng. Bài diễn văn góp phần thúc đẩy Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Dân quyền năm 1964.
Bài 1: Vấn đề trọng tâm của văn bản
Đề: Vấn đề trọng tâm được đề cập ở văn bản "Tôi có một ước mơ" là gì?
Trả lời: Vấn đề trọng tâm là quyền bình đẳng và tự do của người da đen ở nước Mỹ. Tác giả lên án nạn phân biệt chủng tộc, đòi hỏi người da đen phải được hưởng những quyền con người, quyền công dân chính đáng như người da trắng, hướng tới một xã hội mà mọi người được sống bình đẳng, hòa hợp.
Bài 2: Các luận điểm trong văn bản
Đề: Chỉ ra các luận điểm được tác giả triển khai trong văn bản.
Các luận điểm chính:
- Thực trạng đáng buồn: dù đã có Tuyên ngôn Giải phóng nô lệ, người da đen vẫn chưa thực sự tự do, vẫn bị xiềng xích bởi nạn phân biệt chủng tộc và đói nghèo.
- Yêu cầu cấp bách: phải đấu tranh đòi quyền bình đẳng ngay bây giờ, không thể chờ đợi, nhưng phải đấu tranh bằng con đường ôn hòa, bất bạo động, không thù hận.
- Khẳng định niềm tin và ước mơ: tin tưởng vào một tương lai nước Mỹ tự do, bình đẳng, nơi mọi người không bị đánh giá bởi màu da mà bởi phẩm chất.
Bài 3: Cách dùng lí lẽ và bằng chứng
Đề: Phân tích cách tác giả dùng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người nghe, người đọc về quan điểm của mình.
Gợi ý phân tích:
- Lí lẽ sắc bén, dựa trên các giá trị nền tảng: tác giả viện dẫn Tuyên ngôn Độc lập và Hiến pháp Mỹ, những văn bản khẳng định "mọi người sinh ra đều bình đẳng", để cho thấy quyền bình đẳng của người da đen là chính đáng, đúng với lí tưởng lập quốc.
- Bằng chứng thực tế: chỉ ra cảnh người da đen vẫn sống trong cảnh nghèo khổ, bị kì thị, bị tách biệt khỏi đời sống xã hội.
- Kết hợp lí trí và cảm xúc: vừa lập luận chặt chẽ vừa khơi gợi tình cảm, lương tri người nghe, tạo sức lay động mạnh mẽ.
Bài 4: Ước mơ ở đoạn cuối và hình ảnh "tự do ngân vang"
Đề: Trong đoạn cuối của văn bản, tác giả đã ước mơ điều gì? Hình ảnh "tự do ngân vang từ những đỉnh đồi, [...] ngọn núi" thể hiện như thế nào về ý tưởng và cảm xúc của tác giả?
Trả lời:
- Đoạn cuối, tác giả ước mơ về một ngày tự do, bình đẳng lan tỏa khắp nước Mỹ, mọi người con của Chúa, dù da đen hay da trắng, đều có thể nắm tay nhau như anh em.
- Hình ảnh "tự do ngân vang từ những đỉnh đồi, ngọn núi" mang ý nghĩa biểu tượng: tự do không còn là điều xa vời mà vang vọng khắp mọi miền đất nước, từ những vùng đất cao nhất tới khắp nơi. Điệp lại địa danh trên khắp nước Mỹ cho thấy ước mơ tự do mang tầm vóc dân tộc, bao trùm toàn quốc gia.
- Về cảm xúc: thể hiện niềm tin mãnh liệt, sự sôi nổi, khát khao cháy bỏng và tinh thần lạc quan của tác giả vào tương lai tươi sáng.
Bài 5: Các biện pháp tu từ và hiệu quả
Đề: Hãy chỉ ra và phân tích hiệu quả của các biện pháp tu từ (điệp ngữ, ẩn dụ,...) đã được tác giả sử dụng.
| Biện pháp | Biểu hiện | Hiệu quả |
|---|---|---|
| Điệp ngữ | "Tôi có một ước mơ", "Hãy để tự do ngân vang…" lặp lại nhiều lần | Nhấn mạnh khát vọng, tạo nhịp điệu hùng hồn, tăng sức truyền cảm và khơi dậy cảm xúc cộng đồng |
| Ẩn dụ | "tấm séc", "ngân hàng công lí", "ngọn lửa", "ốc đảo tự do" | Cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng (công lí, tự do, bất công) thành hình ảnh dễ hình dung, sinh động |
| So sánh, đối lập | Đối lập giữa tự do – xiềng xích, ánh sáng – bóng tối | Làm nổi bật thực trạng bất công và khát vọng đổi thay |
| Liệt kê | Liệt kê các bang, vùng đất nước Mỹ | Tạo cảm giác ước mơ lan tỏa khắp nơi, mang tầm vóc dân tộc |
Tổng hợp lại, các biện pháp tu từ làm cho lời văn vừa giàu hình ảnh vừa giàu nhạc điệu, vừa thuyết phục bằng lí trí vừa lay động bằng cảm xúc.
Bài 6: Thái độ, tình cảm của tác giả đối với nước Mỹ
Đề: Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả đối với nước Mỹ qua văn bản.
Trả lời: Tác giả vừa phê phán mạnh mẽ những bất công, nạn phân biệt chủng tộc tồn tại trên đất nước mình, vừa thể hiện tình yêu sâu sắc và niềm tin tha thiết vào nước Mỹ. Ông không chối bỏ hay thù hận đất nước mà mong muốn nước Mỹ thực hiện đúng lí tưởng cao đẹp đã ghi trong Tuyên ngôn Độc lập. Đó là thái độ của một công dân yêu nước chân chính: dám nhìn thẳng vào hạn chế và khao khát góp phần làm cho đất nước tốt đẹp hơn.
Bài 7: Ý nghĩa của quan điểm, ước mơ tác giả đến hôm nay
Đề: Theo bạn, quan điểm và ước mơ của tác giả được thể hiện trong văn bản đến nay còn có ý nghĩa không? Hãy lí giải ý kiến của bạn.
Gợi ý (em nêu chính kiến rồi lí giải):
- Quan điểm và ước mơ ấy vẫn còn nguyên giá trị. Bình đẳng, công bằng, tôn trọng phẩm giá con người là những giá trị phổ quát, không bị giới hạn bởi thời gian hay quốc gia.
- Trên thực tế, nạn phân biệt chủng tộc, kì thị, bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới, nên thông điệp của Mác-tin Lu-thơ Kinh vẫn là lời nhắc nhở, cổ vũ mọi người tiếp tục đấu tranh cho một xã hội nhân văn hơn.
- Tinh thần đấu tranh ôn hòa, không thù hận mà ông đề cao cũng là bài học quý về cách giải quyết xung đột trong xã hội hiện đại.
Bài 8: Bài học về tạo lập văn bản nghị luận giàu sức thuyết phục
Đề: Từ bài diễn văn "Tôi có một ước mơ", bạn rút ra được bài học gì trong việc tạo lập một văn bản nghị luận giàu sức thuyết phục?
Bài học:
- Cần có luận điểm rõ ràng, gắn với vấn đề có ý nghĩa, đánh trúng mối quan tâm chung.
- Lí lẽ phải dựa trên những giá trị, chân lí được thừa nhận; bằng chứng phải xác thực, gần gũi.
- Kết hợp hài hòa giữa lí trí và cảm xúc để vừa thuyết phục vừa lay động lòng người.
- Vận dụng các biện pháp tu từ (điệp ngữ, ẩn dụ, hình ảnh biểu tượng…) để lời văn giàu sức gợi, dễ ghi nhớ.
- Giọng văn chân thành, thể hiện được tâm huyết và niềm tin của người viết.
Kết nối đọc – viết
Đề: Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày điều bạn thấy tâm đắc khi đọc văn bản "Tôi có một ước mơ".
Đoạn văn tham khảo:
Đọc Tôi có một ước mơ của Mác-tin Lu-thơ Kinh, điều khiến tôi tâm đắc nhất là sức mạnh của một ước mơ chính nghĩa được nói lên bằng tình yêu thương thay vì hận thù. Giữa thời điểm người da đen còn bị kì thị, xem nhẹ, tác giả không kêu gọi bạo lực mà chọn con đường đấu tranh ôn hòa, dựa trên lí tưởng bình đẳng vốn là nền tảng lập quốc của nước Mỹ. Điệp ngữ "Tôi có một ước mơ" vang lên tha thiết khiến tôi cảm nhận được khát vọng cháy bỏng và niềm tin mãnh liệt vào tương lai. Bài diễn văn dạy tôi rằng muốn thay đổi điều bất công, con người cần kiên trì, dũng cảm cất lên tiếng nói nhưng vẫn giữ lòng bao dung. Đó là lí do thông điệp về tự do và bình đẳng của ông đến nay vẫn còn nguyên giá trị, tiếp thêm niềm tin cho những ai đang đấu tranh vì một thế giới công bằng hơn.
Văn bản 3: Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)
Trang 85 mở đầu văn bản mới. Phần này chủ yếu là câu hỏi chuẩn bị và đoạn trích đầu, chưa có bài tập cần giải, cô tóm tắt và gợi ý phần "Trước khi đọc":
Câu hỏi chuẩn bị:
- Có bao giờ bạn băn khoăn khi phải phân biệt cái mới với cái cũ? Hãy chia sẻ trải nghiệm. → Em tự liên hệ trải nghiệm bản thân (ví dụ phân biệt phong cách âm nhạc, thời trang, công nghệ mới – cũ) và chỉ ra rằng ranh giới giữa mới và cũ nhiều khi không rạch ròi.
- So sánh một bài thơ Thơ mới với một bài thơ trung đại để tìm điểm khác biệt. → Có thể so sánh Vội vàng (Xuân Diệu) với Qua Đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan): khác nhau về cái tôi cá nhân, cảm xúc, ngôn ngữ, thể thơ, nhịp điệu.
Nội dung đoạn trích đầu:
- Hoài Thanh nêu vấn đề bàn luận: đi tìm "tinh thần thơ mới".
- Tác giả chỉ ra cái khó khi phân biệt rạch ròi thơ mới – thơ cũ: trong thơ mới vẫn có câu mang dáng dấp thơ cũ (dẫn câu của Xuân Diệu), trong thơ cũ lại có câu nhí nhảnh, lả lơi như thơ mới.
- Kết luận quan trọng: cái tầm thường, lố lăng không phải của riêng thời nào; muốn hiểu tinh thần thơ cho đúng "phải sánh bài hay với bài hay".
Đây là cách lập luận khách quan, thận trọng, đặt nền cho việc xác định tinh thần Thơ mới ở các phần sau.
