Giải Ngữ Văn 12 - Tập Một trang 91
Lời giải chi tiết SGK Lớp 12 · Môn Ngữ Văn · Trang 91–92
Phần lý thuyết & ví dụ (cuối bài Đọc – trang 90)
Đoạn lý thuyết trong khung tóm lại một ý quan trọng về ngôn ngữ trong tác phẩm truyện:
- Trong truyện, việc mô phỏng, tái tạo ngôn ngữ nói bằng ngôn ngữ viết là một đối tượng khảo sát thú vị.
- Sự cộng hưởng giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết tạo ra các hiện tượng đặc biệt về lời văn:
- Lời nửa trực tiếp: lời của người kể chuyện nhưng tái hiện ý thức, giọng điệu của nhân vật.
- Lời độc thoại nội tâm: tái hiện tiếng nói bên trong nhân vật.
- Lời nhại: lời trần thuật mô phỏng quan điểm, ý thức của nhân vật kèm ý mỉa mai, bông đùa.
- Ví dụ là đoạn miêu tả tâm lí bà cụ Tứ trong "Vợ nhặt" (Kim Lân): "Bà lão phấp phỏng bước theo con... Ai thế nhỉ?" Đoạn này dùng nhiều câu mang hình thức lời nửa trực tiếp, người kể nương theo ý thức nhân vật, giữ lại dấu ấn khẩu ngữ ("Quái, sao lại có người đàn bà nào ở trong ấy nhỉ?").
- Kết luận: khả năng miêu tả ngôn ngữ gắn với đặc điểm cá thể của nhân vật (xuất thân, địa phương, môi trường sống, tầng lớp xã hội) là một bước tiến của tự sự hiện đại.
Bài 3: Nhận xét ngôn ngữ nói trong một cảnh phim/chương trình truyền hình
Đề: Chọn một cảnh có hội thoại trong một bộ phim hoặc một chương trình truyền hình và nhận xét đặc điểm của ngôn ngữ nói được thể hiện trong cảnh này. Từ đó, đánh giá hiệu quả trình bày, truyền đạt thông tin bằng lời nói ở ví dụ đã chọn.
Đây là bài tập thực hành mở, mình gợi ý cách làm cụ thể:
Bước 1 – Chọn ngữ liệu: nên chọn cảnh đối thoại tự nhiên (ví dụ một cảnh trong phim truyền hình Việt Nam, hoặc một talkshow, bản tin).
Bước 2 – Nhận xét đặc điểm ngôn ngữ nói trong cảnh:
- Có sử dụng từ ngữ khẩu ngữ, từ địa phương, tiếng lóng không.
- Câu thường ngắn, có nhiều câu tỉnh lược, câu cảm thán, câu hỏi.
- Có yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm: ngữ điệu, nét mặt, cử chỉ, ánh mắt.
- Có hiện tượng ngập ngừng, lặp từ, nói chen ngang, ngắt lời.
Bước 3 – Đánh giá hiệu quả:
- Ngôn ngữ nói kèm biểu cảm giúp truyền đạt thái độ, cảm xúc trực tiếp, sinh động.
- Tạo cảm giác chân thực, gần gũi với người xem.
- Hạn chế: thông tin có thể thiếu chặt chẽ, dễ trùng lặp nếu không có kịch bản tốt.
Bài 4: Chuyển hội thoại sang ngôn ngữ viết và so sánh
Đề: Thể hiện nội dung của hội thoại được chọn ở bài tập 3 bằng ngôn ngữ viết và nhận xét sự khác biệt về phương tiện ngôn ngữ biểu đạt trong hai trường hợp.
Gợi ý cách làm:
Bước 1 – Viết lại nội dung cuộc hội thoại thành một đoạn văn bản viết (lời tường thuật hoặc văn bản hoàn chỉnh), dùng câu đầy đủ chủ – vị, dùng dấu câu, từ ngữ chuẩn mực.
Bước 2 – Lập bảng so sánh:
| Tiêu chí | Ngôn ngữ nói (cảnh phim) | Ngôn ngữ viết (đoạn văn) |
|---|---|---|
| Phương tiện | Âm thanh + cử chỉ, nét mặt, ngữ điệu | Chữ viết, dấu câu |
| Từ ngữ | Khẩu ngữ, từ địa phương, tiếng lóng | Từ ngữ chọn lọc, chuẩn mực |
| Câu | Ngắn, tỉnh lược, lặp, chen ngang | Đầy đủ, chặt chẽ, có liên kết |
| Tiếp nhận | Nghe trực tiếp, tức thời | Đọc, có thể đọc lại nhiều lần |
| Sửa chữa | Khó thu hồi lời đã nói | Có thể chỉnh sửa trước khi công bố |
Bước 3 – Kết luận: hai phương tiện có ưu thế riêng; ngôn ngữ viết cô đọng, chính xác hơn nhưng mất đi yếu tố biểu cảm sống động của ngôn ngữ nói.
Bài 5: Ưu thế và hạn chế của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Đề: Phân tích những ưu thế và hạn chế của việc sử dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.
Trả lời:
Ngôn ngữ nói
- Ưu thế: trực tiếp, tức thời; giàu biểu cảm nhờ ngữ điệu, cử chỉ; có thể điều chỉnh ngay theo phản ứng của người nghe; tạo sự gần gũi, thân mật.
- Hạn chế: lời nói dễ trôi qua, khó lưu giữ; dễ thiếu chính xác, lan man, lặp ý; bị giới hạn về không gian và thời gian; khó thu hồi nếu nói sai.
Ngôn ngữ viết
- Ưu thế: được chọn lọc, gọt giũa kỹ nên chính xác, chặt chẽ; lưu giữ được lâu dài, truyền đi xa; người đọc có thể đọc lại, suy ngẫm; có thể chỉnh sửa trước khi công bố.
- Hạn chế: thiếu yếu tố biểu cảm trực tiếp (giọng điệu, nét mặt); không có sự tương tác tức thời; đòi hỏi người đọc phải biết chữ và có kỹ năng đọc hiểu.
Phần VIẾT: Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội (trang 90 – 91)
Định hướng chung
- Kiểu bài nghị luận về một vấn đề của đời sống đòi hỏi kỹ năng quan sát để phát hiện vấn đề có ý nghĩa từ cuộc sống hằng ngày.
- Cần trình bày rõ quan điểm cá nhân, tổ chức bài chặt chẽ, có hệ thống luận điểm, mỗi luận điểm có lí lẽ chắc chắn và bằng chứng xác thực.
Yêu cầu cần đạt (trang 91)
- Nêu được vấn đề giàu ý nghĩa, gợi mở cách nhìn sâu hơn về mối quan hệ giữa con người với cuộc sống xung quanh.
- Thể hiện quan điểm rõ ràng qua hệ thống luận điểm chặt chẽ, lí lẽ sắc bén và bằng chứng phù hợp, sinh động.
- Dẫn được những ý kiến trái chiều để phản bác, nhằm củng cố lập luận.
- Rút ra ý nghĩa của việc nhận thức đúng về vấn đề.
Bài viết tham khảo: "Lắng nghe những tiếng thì thầm của cuộc sống" (trang 91)
Đây là bài đọc tham khảo, không phải bài tập cần giải. Mình phân tích cấu trúc để bạn học cách viết:
Cách mở bài (nêu vấn đề theo lối trực tiếp)
- Tác giả mở đầu bằng câu hỏi tu từ: phải chăng vì quen với âm thanh náo nhiệt của đời sống hiện đại mà ta vô tình quên đi tiếng nói của những "khoảng lặng", bỏ phí những giây phút sống chậm để lắng nghe "những tiếng thì thầm" của cuộc sống. Cách này nêu thẳng vấn đề bàn luận.
Hệ thống luận điểm
- Luận điểm 1: Bàn về nghĩa của từ "lắng nghe". Lắng nghe trước hết là tập trung tiếp nhận âm thanh từ bên ngoài; sâu hơn, lắng nghe còn là thấu hiểu, đồng cảm, biết sẻ chia với suy nghĩ, tâm tư, ước vọng của người khác và hòa điệu với thế giới xung quanh.
- Luận điểm 2: Bàn về việc lắng nghe nỗi buồn vui của con người, kèm bằng chứng thực tế. Tác giả dẫn nhiều dẫn chứng: lời tâm sự của cô bé trên giường bệnh ước được đến trường; tiếng thở dài của người nông dân khi "được mùa rớt giá"; nỗi mong về quê sum họp của người lao động nghèo dịp Tết; niềm vui khi em bé 18 tháng được cứu sống trên biển Thổ Nhĩ Kỳ; nỗi đau khi nghe tiếng nấc của thân nhân hành khách trên chuyến bay định mệnh từ Nga đến Ai Cập.
Bài học rút ra từ bài tham khảo
- Cách triển khai: mỗi luận điểm đều có lí lẽ rõ ràng đi kèm dẫn chứng cụ thể, sinh động.
- Giọng văn giàu cảm xúc nhưng vẫn chặt chẽ về lập luận, đúng yêu cầu của bài nghị luận xã hội.
Nếu bạn muốn, mình có thể dựng dàn ý chi tiết hoặc viết hoàn chỉnh một bài nghị luận xã hội theo mẫu này cho một chủ đề cụ thể.
