Giải Tiếng Việt 4 - Tập Hai trang 141
Lời giải chi tiết SGK Lớp 4 · Môn Tiếng Việt · Trang 141–142
Tóm tắt nội dung trang
Đây là phần mở đầu của PHẦN 2 – ĐÁNH GIÁ CUỐI NĂM HỌC (Đề tham khảo), gồm hai phần đọc:
- A. ĐỌC – I. Đọc thành tiếng: bài thơ Chiều thu quê em (Trương Nam Hương) kèm 2 câu hỏi.
- A. ĐỌC – II. Đọc – hiểu: bài văn Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất (phần đọc, chưa có câu hỏi trên trang này).
Bài I: Đọc thành tiếng – Chiều thu quê em
Bài thơ vẽ nên một buổi chiều thu yên ả ở làng quê: nắng mỏng, hoa chuối rụng, chim hót, dòng sông trong mát, con bò gặm cỏ, cánh diều bay... Tất cả hiện lên thật sống động và thân thương qua con mắt trẻ thơ.
Câu 1
Đề: Kể tên 5 sự vật được miêu tả trong bài thơ.
Trả lời: Có thể chọn 5 sự vật sau (bài thơ có rất nhiều, em chỉ cần kể 5):
| STT | Sự vật | Câu thơ gợi ý |
|---|---|---|
| 1 | Nắng chiều | "Nắng chiều mỏng manh sợi chỉ" |
| 2 | Hoa chuối | "Hoa chuối rơi như tàn lửa" |
| 3 | Con chim | "Con chim giấu chiều trong cánh" |
| 4 | Dòng sông | "Dòng sông mát lành tuổi nhỏ" |
| 5 | Cánh diều | "Cánh diều ca hát rong chơi" |
Ngoài ra còn có: chuồn kim, lục bình, con bò, cây lúa, cây dừa, mây... em đều có thể kể.
Câu 2
Đề: Tìm trong bài 2 câu thơ có sử dụng biện pháp nhân hoá.
Trả lời: Em chọn 2 trong các câu sau:
- "Lúa bá vai nhau chạy miết" – cây lúa được tả như con người biết bá vai, chạy.
- "Mây trốn đâu rồi chẳng biết / Chiều lo đến tím mặt mày!" – mây biết trốn, buổi chiều biết lo và tím mặt mày như người.
Các câu khác cũng dùng nhân hoá: "Con chim giấu chiều trong cánh", "Dừa cầm gió lọt kẽ tay", "Cánh diều ca hát rong chơi".
Giải thích: Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật... bằng những từ ngữ vốn dùng cho con người (hành động, cảm xúc, bộ phận cơ thể). Nhờ đó cảnh vật quê hương trở nên sinh động, gần gũi và có hồn hơn.
Bài II: Đọc – hiểu – Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất
Tóm tắt nội dung bài đọc:
- Ngày 20/9/1519, hạm đội 5 chiếc thuyền do Ma-gien-lăng chỉ huy rời cảng Xê-vi-la (Tây Ban Nha) đi khám phá vùng đất mới.
- Đoàn vượt Đại Tây Dương, đi dọc bờ biển Nam Mỹ, tìm ra eo biển dẫn tới một đại dương rộng lớn, sóng yên biển lặng nên đặt tên là Thái Bình Dương.
- Hành trình gian khổ: hết thức ăn, nước ngọt; thuỷ thủ phải uống nước tiểu, ninh giày da để ăn; nhiều người chết.
- Ma-gien-lăng hi sinh trong trận giao tranh với dân đảo Ma-tan, không kịp thấy kết quả.
- Ngày 08/9/1522, chỉ còn 1 thuyền với 18 thuỷ thủ trở về Tây Ban Nha.
- Chuyến đi kéo dài 1083 ngày, mất 4 thuyền và gần 200 người, nhưng đã chứng minh Trái Đất hình cầu và tìm ra Thái Bình Dương cùng nhiều vùng đất mới.
Từ ngữ:
- Ma-tan: một đảo thuộc quần đảo Phi-líp-pin ngày nay.
- Sứ mạng: nhiệm vụ cao cả.
Lưu ý: Trên trang này chỉ có phần văn bản đọc – hiểu, chưa thấy in câu hỏi. Các câu hỏi của bài Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất nằm ở trang tiếp theo. Khi em gửi ảnh trang sau, thầy/cô sẽ giải chi tiết từng câu nhé.
