Giải Ngữ Văn 6 - Tập 2 trang 61
Lời giải chi tiết SGK Lớp 6 · Môn Ngữ Văn · Trang 61–62
Tóm tắt nội dung lý thuyết
Văn bản Khác biệt – thoát khỏi bầy đàn cạnh tranh kể về một bài tập trong lớp: tất cả học sinh được yêu cầu thể hiện sự khác biệt trong 24 giờ. Đa số chọn cách dễ dãi (ăn mặc quái dị, gây ồn ào) – đó là "khác biệt vô nghĩa". Riêng J chọn cách ăn mặc chỉnh tề, cư xử lễ độ, nghiêm trang, chân thành – đó là "khác biệt có ý nghĩa". Từ đó tác giả rút ra bài học: sự khác biệt chia làm hai loại, và chỉ sự khác biệt có ý nghĩa mới khiến người ta thực sự nể phục.
Đây là một văn bản nghị luận: tác giả đi từ thực tế (kể câu chuyện) → rút ra lí lẽ và kết luận.
Sau khi đọc – TRẢ LỜI CÂU HỎI
Bài 1: Kể chuyện hay rút ra bài học – điều nào quan trọng hơn?
Đề: Văn bản có kể một câu chuyện mà tác giả là người trong cuộc. Theo em, giữa việc kể lại câu chuyện và rút ra bài học từ câu chuyện, điều nào quan trọng hơn? Căn cứ vào đâu mà em xác định như vậy?
Lời giải:
- Việc rút ra bài học quan trọng hơn việc kể lại câu chuyện.
- Căn cứ: Đây là văn bản nghị luận, không phải truyện. Câu chuyện chỉ đóng vai trò làm bằng chứng (dẫn chứng thực tế) để minh họa cho vấn đề. Mục đích cuối cùng của tác giả là thuyết phục người đọc về một quan điểm: cần tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa. Vì thế bài học mới là cái đích, còn câu chuyện chỉ là phương tiện.
Bài 2: Sự khác biệt của số đông và của J khác nhau thế nào?
Đề: Việc thể hiện sự khác biệt của số đông các bạn trong lớp và của J hoàn toàn khác nhau. Sự khác nhau ấy biểu hiện cụ thể như thế nào?
Lời giải – có thể lập bảng cho rõ:
| Số đông các bạn | Bạn J | |
|---|---|---|
| Cách thể hiện | Ăn mặc quái dị, làm trò lố, gây náo động, tỏ ra ngu ngốc | Ăn mặc chỉnh tề, nghiêm trang |
| Thái độ | Cốt gây chú ý nhất thời, không suy nghĩ | Đứng lên trả lời câu hỏi một cách lễ độ, gọi bạn bằng "anh/chị", gọi thầy cô là "thưa thầy/cô", bắt tay thầy giáo |
| Bản chất | Khác biệt vô nghĩa, dễ dàng, ai cũng làm được | Khác biệt có ý nghĩa, trang trọng, chững chạc, dũng cảm |
| Kết quả | Bị bỏ qua, không để lại ấn tượng sâu | Khiến mọi người nể phục, thay đổi cái nhìn |
Bài 3: Nhận xét cách triển khai (đi từ thực tế rồi rút ra vấn đề)
Đề: Trong văn bản này, tác giả đi từ thực tế để rút ra điều cần bàn luận hay nêu điều cần bàn trước, sau đó mới đưa ra bằng chứng từ thực tế để chứng minh? Hãy nhận xét về sự lựa chọn cách triển khai này.
Lời giải:
- Tác giả đi từ thực tế (kể câu chuyện về bài tập "trở nên khác biệt" và hành động của J) rồi mới rút ra điều cần bàn luận (có hai loại khác biệt: vô nghĩa và có ý nghĩa).
- Nhận xét: Cách triển khai này tự nhiên, gần gũi, dễ thuyết phục. Người đọc được dẫn dắt qua một trải nghiệm cụ thể, sinh động trước, nên khi đến phần kết luận thì thấy thấm thía, tin cậy, không bị áp đặt khô khan. Bằng chứng từ chính người trong cuộc cũng làm tăng độ chân thực.
Bài 4: Em có đồng tình với cách chia khác biệt thành hai loại không?
Đề: Tác giả phân chia sự khác biệt thành hai loại: "khác biệt vô nghĩa" (qua cách thể hiện của số đông các bạn trong lớp) và "khác biệt có ý nghĩa" (qua cách thể hiện của J). Em có đồng tình với cách phân chia như thế không? Vì sao?
Lời giải (gợi ý – em đồng tình):
- Em đồng tình với cách phân chia này.
- Vì: cách phân chia rất hợp lí và sâu sắc. "Khác biệt vô nghĩa" là loại dễ tạo ra, chỉ gây chú ý bề ngoài, nhất thời, ai cũng làm được nên thực ra lại giống nhau, mờ nhạt. "Khác biệt có ý nghĩa" đòi hỏi sự suy nghĩ, bản lĩnh, nhân cách, nên mới thực sự nổi bật và đáng quý. Cách phân chia giúp ta nhận ra: khác biệt không nằm ở hình thức kì quặc bên ngoài mà ở giá trị bên trong.
Bài 5: Do đâu số đông thường khác biệt vô nghĩa? Cần năng lực, phẩm chất gì để khác biệt có ý nghĩa?
Đề: Do đâu số đông thường thể hiện sự khác biệt vô nghĩa? Muốn tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa, con người cần có những năng lực và phẩm chất gì?
Lời giải:
- Số đông thường tạo khác biệt vô nghĩa vì: họ chọn cách dễ dàng, không tốn công suy nghĩ, chỉ muốn gây chú ý nhanh chóng; họ lười tìm kiếm điều sâu sắc hơn, ngại khó, dễ chạy theo đám đông.
- Muốn tạo sự khác biệt có ý nghĩa, con người cần:
- Năng lực: trí tuệ, sự hiểu biết, khả năng suy nghĩ độc lập, biết nhìn nhận vấn đề thấu đáo.
- Phẩm chất: bản lĩnh, sự tự tin, lòng dũng cảm, sự chân thành, nghiêm túc, kiên định với giá trị của mình.
Bài 6: Bài học về sự khác biệt có chỉ dành cho học sinh không?
Đề: Theo em, bài học về sự khác biệt được rút ra từ văn bản này có phải chỉ có giá trị đối với lứa tuổi học sinh hay không? Vì sao?
Lời giải:
- Không. Bài học này có giá trị với mọi lứa tuổi, mọi người.
- Vì: nhu cầu khẳng định bản thân, mong muốn được công nhận là điều ai cũng có, ở bất cứ độ tuổi nào. Trong cuộc sống và công việc, người trưởng thành cũng phải lựa chọn: chạy theo cái khác biệt hời hợt hay tạo dựng giá trị thật sự bằng tài năng, nhân cách. Vì vậy bài học "hãy tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa" là lời nhắc nhở chung cho tất cả.
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Đề: Với câu mở đầu: "Tôi không muốn khác biệt vô nghĩa…", hãy viết tiếp 5 – 7 câu để hoàn thành một đoạn văn.
Đoạn văn tham khảo:
Tôi không muốn khác biệt vô nghĩa. Tôi hiểu rằng việc ăn mặc kì quặc hay làm những trò lố để gây chú ý chỉ đem lại sự thích thú nhất thời, rồi sẽ nhanh chóng bị lãng quên. Điều tôi mong muốn là được mọi người ghi nhận bởi chính những giá trị thật của bản thân. Vì thế, tôi sẽ cố gắng học tập chăm chỉ, rèn luyện cách cư xử lễ độ và sống chân thành với mọi người. Tôi cũng muốn dũng cảm bảo vệ điều mình cho là đúng, dù đôi khi nó không giống số đông. Tôi tin rằng sự khác biệt có ý nghĩa sẽ giúp tôi trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Đó mới là sự khác biệt đáng để theo đuổi.
Thực hành tiếng Việt – LỰA CHỌN TỪ NGỮ
Bài 1: Tác dụng của việc lựa chọn từ ngữ
Câu a
Đề: Với câu "Nhớ các bạn trong lớp tôi ngày trước, mỗi người một vẻ, sinh động biết bao." có thể dùng từ "kiểu" để thay cho từ "vẻ" được không? Vì sao?
Lời giải:
- Không nên thay từ "vẻ" bằng từ "kiểu".
- Vì: từ "vẻ" chỉ vẻ riêng, nét riêng đáng yêu, sinh động về tính cách, dáng dấp của mỗi người, mang sắc thái trân trọng, gợi cảm xúc. Còn từ "kiểu" thường dùng để phân loại sự vật một cách khô khan (kiểu dáng, kiểu cách), không phù hợp khi nói về con người và không gợi được vẻ sinh động, đáng quý như từ "vẻ". Dùng "kiểu" sẽ làm câu văn mất đi tình cảm và sự tinh tế.
Câu b
Đề: Từ "khuất" được dùng trong câu "Giờ đây, mẹ tôi đã khuất và tôi cũng đã lớn." có phù hợp hơn so với một số từ khác cũng có nghĩa là "chết" như: mất, từ trần, hi sinh?
Lời giải:
- Từ "khuất" là lựa chọn phù hợp nhất trong câu này.
- So sánh các từ:
- "Mất": cũng dùng được, nhưng sắc thái trung tính, hơi trực tiếp.
- "Từ trần": trang trọng, thường dùng trong văn bản nghi thức, cáo phó – không hợp với lời tâm tình.
- "Hi sinh": dùng cho người chết vì nghĩa lớn (vì Tổ quốc, vì người khác) – không hợp với hoàn cảnh người mẹ.
- "Khuất": nói giảm nói tránh, thể hiện sự xa cách nhẹ nhàng, kín đáo, vừa giảm bớt nỗi đau, vừa bộc lộ tình cảm thương nhớ, trân trọng của người con đối với mẹ.
- Vì vậy từ "khuất" vừa tế nhị, vừa giàu cảm xúc nên hợp lí nhất.
Câu c
Đề: Vì sao trong câu "Tôi luôn nhớ về mẹ với niềm xúc động khôn nguôi.", từ "xúc động" được chọn hợp lí hơn các từ khác như "cảm động" hay "xúc cảm"?
Lời giải:
- Từ "xúc động" hợp lí nhất.
- Phân tích:
- "Xúc động": diễn tả trạng thái tình cảm bị lay động mạnh mẽ, sâu xa từ trong lòng – đúng với tâm trạng nhớ thương mẹ da diết.
- "Cảm động": thường chỉ sự rung động trước một việc tốt, một hành động của người khác tác động đến mình; sắc thái nhẹ hơn, không diễn tả hết được nỗi nhớ thương sâu nặng.
- "Xúc cảm": nghĩa rộng, chung chung, chỉ những rung động tình cảm nói chung, không cụ thể và mạnh mẽ bằng "xúc động".
- Do đó "xúc động" diễn tả chính xác và sâu sắc nhất tình cảm của người con dành cho mẹ.
