Giải Ngữ Văn 6 - Tập 2 trang 89

Lời giải chi tiết SGK Lớp 6 · Môn Ngữ Văn · Trang 89–90

Hai trang này gồm hai phần: phần TRẢ LỜI CÂU HỎI cho bài thơ Trái Đất của Ra-xun Gam-da-tốp, và phần VIẾT – hướng dẫn viết biên bản một cuộc họp, cuộc thảo luận kèm biên bản tham khảo. Mình sẽ đi lần lượt nhé.

Phần 1: Trả lời câu hỏi (bài thơ "Trái Đất")

Để các em dễ theo dõi, mình nhắc lại tinh thần bài thơ: nhà thơ lên tiếng bênh vực Trái Đất trước những kẻ hung bạo, đồng thời bày tỏ tình yêu thương, sự nâng niu dành cho Trái Đất như một con người đang chịu nhiều tổn thương.

Câu 1

Đề: Bốn dòng đầu của bài thơ tập trung nói về điều gì?

Trả lời: Bốn dòng đầu tập trung nói về thái độ thô bạo, hung hãn của những kẻ độc ác (được ví như bầy diều quạ, bầy giặc) đối với Trái Đất. Chúng giành giật, xâu xé, coi Trái Đất như một con mồi để tranh cướp. Qua đó, nhà thơ phê phán những kẻ chỉ biết khai thác, tàn phá, gây tổn hại cho Trái Đất.

Câu 2

Đề: Bốn dòng thơ sau cho biết thái độ của nhà thơ đối với Trái Đất như thế nào?

Trả lời: Bốn dòng sau thể hiện thái độ trân trọng, yêu thương, nâng niu của nhà thơ. Khác hẳn với bầy diều quạ, nhà thơ xem Trái Đất như một con người thân thiết: ông "lau nước mắt", "rửa sạch máu" cho Trái Đất, gọi Trái Đất bằng những lời âu yếm (quả dưa, quả bóng). Đó là thái độ vỗ về, an ủi, che chở của một người biết yêu thương.

Câu 3

Đề: Nhắc đến nước mắt và máu, nhà thơ muốn nói lên tình trạng gì của Trái Đất?

Trả lời: Nước mắt và máu cho thấy Trái Đất đang đau khổ và bị tổn thương nặng nề. "Nước mắt" gợi nỗi buồn đau, "máu" gợi vết thương, sự mất mát do chiến tranh, bạo lực, sự tàn phá của con người gây ra. Trái Đất hiện lên như một sinh thể đang quằn quại, cần được cứu chữa, vỗ về.

Câu 4

Đề: Chỉ ra sự khác nhau giữa các cách hình dung về Trái Đất và thái độ cư xử với Trái Đất được thể hiện trong bài thơ.

Trả lời: Bài thơ đặt ra hai cách hình dung và hai thái độ trái ngược:

Cách hình dung Trái ĐấtThái độ cư xử
Trái Đất là con mồi để tranh cướp (như diều quạ giành xác chết)Hung bạo, giành giật, xâu xé, tàn phá
Trái Đất là quả dưa, quả bóng – là người bạn, người thân đáng yêuTrân trọng, yêu thương, vỗ về, lau nước mắt và rửa sạch máu

Sự đối lập này giúp khẳng định: chỉ có tình yêu thương mới là cách cư xử đúng đắn với Trái Đất.

Câu 5

Đề: Hãy tìm ra điểm chung về mặt nội dung giữa bài thơ của Ra-xun Gam-da-tốp với hai văn bản Trái Đất – cái nôi của sự sống và Các loài chung sống với nhau như thế nào?

Trả lời: Điểm chung của cả ba văn bản là cùng nói về Trái Đất và đều khẳng định Trái Đất vô cùng quý giá, là ngôi nhà chung của muôn loài. Từ đó, cả ba kêu gọi con người phải biết yêu thương, trân trọng, bảo vệ Trái Đất, sống hài hòa với thiên nhiên thay vì tàn phá. Dù khác nhau về thể loại (một bài thơ, hai văn bản thông tin), thông điệp về trách nhiệm bảo vệ Trái Đất là điểm gặp gỡ chung.

Câu 6

Đề: Theo em, để cùng "lau nước mắt" và "rửa sạch máu" cho Trái Đất, mỗi người chúng ta cần phải làm gì?

Trả lời (gợi ý): Mỗi người cần chung tay bằng những hành động thiết thực:

  • Bảo vệ môi trường: trồng cây, giữ gìn vệ sinh, không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước.
  • Phản đối chiến tranh, bạo lực; sống yêu thương, hòa bình với mọi người và muôn loài.
  • Không khai thác, tàn phá thiên nhiên bừa bãi; bảo vệ rừng, biển, động vật.
  • Tuyên truyền, nhắc nhở những người xung quanh cùng có ý thức bảo vệ Trái Đất.

"Lau nước mắt" là xoa dịu nỗi đau của Trái Đất, "rửa sạch máu" là chấm dứt sự tàn phá, để Trái Đất được bình yên, tươi đẹp.

Câu 7

Đề: Cùng đưa ra một thông điệp giống nhiều văn bản khác, nhưng bài thơ Trái Đất của Ra-xun Gam-da-tốp vẫn có được sự độc đáo, sức hấp dẫn riêng. Theo em, những gì đã tạo nên sự độc đáo, sức hấp dẫn riêng ấy?

Trả lời: Sức hấp dẫn riêng của bài thơ đến từ:

  • Hình thức thơ giàu hình ảnh, cảm xúc: thông điệp không khô khan mà thấm đẫm tình cảm, dễ chạm đến trái tim người đọc.
  • Cách dùng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ độc đáo: bầy diều quạ – kẻ tàn bạo; quả dưa, quả bóng – Trái Đất thân thương; "lau nước mắt", "rửa sạch máu" – hành động yêu thương cụ thể.
  • Nhân hóa Trái Đất thành một sinh thể có cảm xúc (biết khóc, biết đau), khiến người đọc đồng cảm và muốn che chở.
  • Lối nói đối lập giữa cái xấu và cái đẹp, giữa hung bạo và yêu thương làm nổi bật thông điệp.

Nhờ những yếu tố nghệ thuật này, một thông điệp quen thuộc trở nên mới mẻ, lay động và đáng nhớ.

Phần 2: Viết – Viết biên bản một cuộc họp, cuộc thảo luận

Tóm tắt lý thuyết

Biên bản là một loại văn bản nhật dụng (văn bản thông tin), dùng để ghi chép về một cuộc họp, cuộc thảo luận hay một vụ việc, giúp ta nắm bắt đầy đủ, chính xác nội dung sự việc đã diễn ra. Biên bản được lưu lại như một hồ sơ, khi cần có thể đưa ra làm bằng chứng. Vì vậy biên bản phải được viết đúng thể thức, theo quy cách riêng.

Thể thức của một biên bản thông thường:

  • Đầu biên bản: bên phải ghi quốc hiệu, tiêu ngữ; bên trái ghi tên cơ quan/đơn vị tổ chức.
  • Dưới chữ "BIÊN BẢN": ghi tên gọi khái quát vấn đề cuộc họp giải quyết.
  • Ghi thời gian, địa điểm diễn ra.
  • Ghi thành phần tham dự, người chủ trì, người thư kí.
  • Ghi diễn biến cụ thể, đúng thực tế (ý kiến, phát biểu, kết luận).
  • Ghi thời gian kết thúc.
  • Người chủ trì và thư kí (có thể thêm người làm chứng) kí tên.

Phân tích biên bản tham khảo

Biên bản mẫu "Bàn về kế hoạch tổ chức hoạt động hưởng ứng Ngày Chủ nhật xanh" của lớp 6C đã thể hiện đầy đủ thể thức:

Bộ phận của biên bảnNội dung trong biên bản mẫu
Quốc hiệu, tiêu ngữ"CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM / Độc lập – Tự do – Hạnh phúc" (bên phải)
Tên đơn vị"TRƯỜNG THCS P. H. C. – LỚP 6C" (bên trái)
Tên biên bảnBIÊN BẢN – Bàn về kế hoạch tổ chức hoạt động hưởng ứng "Ngày Chủ nhật xanh"
Thời gian11h ngày 13/02/2019
Địa điểmPhòng học lớp 6C
Thành phần tham dựToàn thể học sinh lớp 6C, vắng 01 (có lí do)
Chủ trìLớp trưởng Lê Tiến H.
Thư kíNguyễn Thị Thanh T.
Diễn biếnTrình bày ý nghĩa, bố trí công việc cho từng tổ, thảo luận các ý kiến
Kết luậnLớp trưởng tóm tắt nội dung đã thống nhất
Thời gian kết thúc11h30 ngày 13/02/2019
Chữ kíThư kí và Chủ trì cùng kí tên

Điều cần ghi nhớ qua biên bản mẫu:

  • Nội dung được ghi theo trình tự, đánh số rõ ràng (ý nghĩa hoạt động → bố trí công việc → thảo luận → kết luận).
  • Ngôn ngữ ngắn gọn, chính xác, khách quan, ghi đúng những gì diễn ra.
  • Có đầy đủ chữ kí của người chủ trì và thư kí để bảo đảm tính xác thực.

Đây chính là khuôn mẫu để các em dựa vào khi tự viết một biên bản của lớp mình nhé.

(Lưu ý nhỏ: ảnh em gửi hiển thị số trang 88 và 89; nội dung mình giải đúng theo những gì có trên hai trang ảnh này.)

Chế độ đọc sách →