Giải Ngữ Văn 7 - Tập 2 trang 72
Lời giải chi tiết SGK Lớp 7 · Môn Ngữ Văn · Trang 72–73
Phần 1: Chỉnh sửa bài viết (cuối trang 71)
Sau khi viết xong bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống (trình bày ý kiến phản đối), em cần đối chiếu bài làm với yêu cầu để tự chỉnh sửa. Trước đó sách nhắc lại cấu trúc:
- Thân bài: Các ý chính trình bày rành mạch, mỗi ý một đoạn riêng, có bằng chứng cụ thể, thuyết phục; mạch văn trôi chảy, tránh kể lể rườm rà.
- Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của việc bàn luận, giúp người đọc thay đổi tích cực trong nhận thức và hành động.
Bảng gợi ý chỉnh sửa:
| Yêu cầu | Gợi ý chỉnh sửa |
|---|---|
| Nêu cụ thể vấn đề nghị luận và ý kiến cần phản đối | Chỉnh sửa nếu vấn đề và ý kiến cần phản đối còn mơ hồ |
| Trình bày rõ sự phản đối của người viết về ý kiến vừa nêu | Diễn đạt cho rõ nếu sự phản đối chưa được thể hiện rõ ràng |
| Đưa ra lí lẽ và bằng chứng để việc phản đối có sức thuyết phục | Củng cố lí lẽ nếu chưa vững chắc, bổ sung bằng chứng nếu còn thiếu |
| Nêu được ý nghĩa của việc phản đối ý kiến trái ngược về vấn đề | Bổ sung nếu chưa nêu được ý nghĩa hoặc nêu chưa rõ |
| Rà soát lỗi về từ ngữ, câu, đoạn văn, liên kết, cách trình bày | Sửa những lỗi phát hiện được |
Phần 2: Nói và nghe – Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống
Mở đầu phần này, sách nêu ý nghĩa của việc trao đổi: trước một ý kiến về đời sống, người nghe có thể tán thành hay phản bác. Đây là thói quen cần thiết:
- Được tán thành thì người nói thêm tự tin.
- Bị phản bác thì người nói cần kiểm tra lại ý kiến của mình, biết điều chỉnh nếu sai và biết bảo vệ nếu thấy mình đúng.
Phần 3: Trước khi nói (trang 72)
a. Chuẩn bị nội dung nói
- Dựa vào kết quả bài viết (bài 6 hoặc bài 8) để tóm lược thành một dàn ý.
- Nắm vững vấn đề đời sống cần bàn luận và nội dung trình bày.
- Dự kiến các tình huống người nghe có thể phản bác để có phương án tiếp thu và bảo vệ ý kiến.
- Ghi nhanh một số lí lẽ, bằng chứng cần dùng.
b. Tập luyện
- Hình thức tập luyện theo nhóm là thích hợp nhất: cả nhóm đưa ra vấn đề, thay nhau đóng vai nói và nghe, phản bác và bảo vệ, rồi rút kinh nghiệm.
Hộp ghi chú bên phải:
- Mục đích nói: Trình bày để người nghe hiểu đúng bản chất, thấy được ý nghĩa của vấn đề với đời sống, từ đó chọn thái độ, cách ứng xử phù hợp.
- Người nghe: Thầy cô, bạn bè và những ai quan tâm đến vấn đề.
Phần 4: Trình bày bài nói (trang 72)
Phần này chia rõ vai trò của hai bên:
Người nói
- a. Trình bày ý kiến về vấn đề: Nêu vấn đề và tầm quan trọng của nó; trình bày các khía cạnh để làm rõ thực chất; nêu ý kiến bản thân kèm lí lẽ, bằng chứng thuyết phục.
- b. Bảo vệ ý kiến trước sự phản bác: Tóm tắt ý kiến trao đổi, giải thích lại chỗ chưa hiểu, dùng lí lẽ và bằng chứng làm rõ tính đúng đắn; sẵn sàng trao đổi tiếp để khẳng định sự xác đáng của ý kiến.
Người nghe
- a. Tiếp nhận và suy nghĩ về ý kiến của người nói: Tập trung lắng nghe, ghi chép các ý cơ bản, đối chiếu với chuẩn bị của mình để thấy chỗ tương đồng và khác biệt; ghi nhanh ý kiến trao đổi.
- b. Nêu ý kiến trao đổi: Trình bày ngắn gọn, rõ ràng bằng câu khẳng định hoặc câu hỏi; theo dõi phản hồi của người nói, trao đổi lại nếu chưa thỏa đáng, đồng tình nếu ý kiến bảo vệ có sức thuyết phục.
Lưu ý nhỏ cho em: hai trang này hoàn toàn là phần hướng dẫn kỹ năng, không có câu hỏi hay bài tập số nào để giải. Em chỉ cần ghi nhớ quy trình chỉnh sửa bài viết và các bước nói – nghe ở trên là đủ. Nếu em muốn cô hướng dẫn lập dàn ý cho một bài nói cụ thể (ví dụ một vấn đề đời sống em đang quan tâm), cứ nói cho cô biết nhé!
