Giải Ngữ Văn 7 - Tập 2 trang 10

Lời giải chi tiết SGK Lớp 7 · Môn Ngữ Văn · Trang 10–11

Trước khi vào phần bài tập, cô tóm tắt nhanh nội dung phần thơ ngụ ngôn ở trang 9 (in cùng cụm bài) để các em nắm mạch chung nhé.

Tóm tắt phần văn bản: Con mối và con kiến

Đây là đoạn cuối bài thơ ngụ ngôn, ghi lại cuộc đối thoại giữa hai con vật với hai lối sống đối lập:

  • Con mối: lười lao động, chỉ thích hưởng thụ, ăn ngon ở yên, đục khoét nhà cửa để sống. Mối chê kiến tìm ăn vất vả mà thân vẫn gầy.
  • Con kiến: chăm chỉ lao động, sống vì đàn vì tổ. Kiến quan niệm "Hễ có làm thì mới có ăn", chấp nhận thân gầy gò vì cộng đồng.

Bài học: ca ngợi lối sống cần cù, có ích, vì tập thể (như kiến); phê phán lối sống lười biếng, ăn bám, phá hoại (như mối). Lối sống của mối tuy béo tốt nhất thời nhưng gây hậu quả nghiêm trọng: đục rỗng khiến "nhà kia đổ xuống", tự hủy hoại chính nơi mình sống.

Hai câu hỏi "Theo dõi" bên lề:

  • Kiến tỏ thái độ phê phán, không đồng tình với lối sống của mối.
  • Hậu quả: nhà cửa bị đục rỗng, đổ sập, chính loài mối cũng mất nơi ở.

Sau đây là phần bài tập trang 10.

Bài 1: Cách xử sự của người thợ mộc

Đề: Người thợ mộc trong truyện Đẽo cày giữa đường đã xử sự thế nào trước mỗi lời khuyên, khiến công sức và của cải "đi đời nhà ma"?

Trả lời:

Trước mỗi lời góp ý của người qua đường, anh thợ mộc đều nghe theo ngay mà không suy xét:

  • Có người bảo đẽo cày cho cao, cho to thì dễ cày, anh liền đẽo cao, đẽo to.
  • Người khác bảo đẽo nhỏ, đẽo thấp mới dễ cày, anh lại đẽo nhỏ, đẽo thấp.
  • Lại có người bảo đẽo thật to gấp đôi gấp ba để cày được cả voi, anh cũng đẽo theo.

Cứ ai nói gì anh cũng làm theo, không có chính kiến, nên bao nhiêu gỗ hỏng hết, cày làm ra chẳng dùng được, vốn liếng "đi đời nhà ma" (mất sạch).

Bài 2: Nếu là người thợ mộc, em sẽ làm gì?

Đề: Nếu là người thợ mộc trong câu chuyện này, em sẽ làm gì trước những lời khuyên như vậy?

Trả lời (gợi ý):

Nếu là anh thợ mộc, em sẽ:

  • Lắng nghe các lời khuyên nhưng không vội làm theo ngay.
  • Suy xét, chọn lọc xem ý kiến nào hợp lý, phù hợp với mục đích và kinh nghiệm của mình.
  • Giữ vững lập trường, có chính kiến riêng, chỉ tiếp thu những góp ý đúng đắn.

Như vậy mới tránh được việc làm hỏng sản phẩm và mất hết vốn liếng.

Bài 3: Điều khiến con ếch sung sướng

Đề: Những điều gì làm cho con ếch trong truyện Ếch ngồi đáy giếng cảm thấy sung sướng?

Trả lời:

Con ếch thấy sung sướng vì sống trong cái giếng nhỏ mà luôn tự cho mình là nhất:

  • Nó được tự do nhảy nhót quanh giếng, ngâm mình trong nước mát.
  • Các con vật nhỏ bé khác trong giếng (cua, ốc, nhái...) đều sợ nó.
  • Nó tưởng bầu trời chỉ bé bằng cái vung và mình là chúa tể.

Chính sự hiểu biết hạn hẹp và thói tự cao đã khiến ếch lầm tưởng cuộc sống ấy là sung sướng, oai phong.

Bài 4: Khác biệt môi trường sống của ếch và rùa

Đề: Hãy chỉ ra những điểm khác biệt về môi trường sống của ếch và rùa. Sự khác biệt đó ảnh hưởng như thế nào đến nhận thức và cảm xúc của hai con vật?

Trả lời:

Tiêu chíCon ếchCon rùa
Môi trường sốngCái giếng nhỏ, chật hẹpBiển Đông rộng lớn, mênh mông
Tầm nhìnHạn hẹp, chỉ thấy khoảng trời bằng cái vungBao la, biết được sự rộng lớn của biển

Ảnh hưởng:

  • Ếch sống nơi nhỏ hẹp nên hiểu biết nông cạn, kiêu ngạo, tự cho mình là to lớn, cảm thấy thỏa mãn, sung sướng.
  • Rùa sống ở biển rộng nên hiểu biết sâu rộng, khiêm tốn, biết được sự bao la của thế giới.

Môi trường sống quyết định tầm nhìn và nhận thức: ở môi trường nhỏ hẹp dễ sinh hiểu biết hạn chế và thói chủ quan, kiêu căng.

Bài 5: Vì sao con ếch "ngạc nhiên, thu mình lại, hoảng hốt, bối rối"?

Đề: Vì sao con ếch "ngạc nhiên, thu mình lại, hoảng hốt, bối rối"?

Trả lời:

Khi nghe rùa kể về biển cả mênh mông, sâu thẳm, ếch mới nhận ra:

  • Thế giới rộng lớn hơn rất nhiều so với cái giếng nhỏ mà nó tưởng là tất cả.
  • Những hiểu biết và sự tự hào bấy lâu của nó hóa ra quá nhỏ bé, nông cạn.

Sự thật bất ngờ ấy vượt khỏi tầm hiểu biết của ếch nên nó ngạc nhiên, thu mình lại, hoảng hốt và bối rối vì nhận ra mình quá kém cỏi, ảo tưởng.

Bài 6: Quan niệm sống của mối và kiến

Đề: Trong truyện Con mối và con kiến, quan niệm sống của mối và kiến bộc lộ như thế nào qua các lời thoại của chúng?

Trả lời:

Quan niệm sống của hai con vật hoàn toàn trái ngược:

  • Con mối: thích hưởng thụ, lười lao động. Mối khoe mình "béo trục béo tròn", ở "nhà cao cửa rộng", chê kiến làm lụng vất vả mà thân vẫn gầy. → Lối sống ích kỷ, ăn bám, chỉ biết hưởng thụ trước mắt.
  • Con kiến: coi trọng lao động, sống vì cộng đồng. Kiến khẳng định "Hễ có làm thì mới có ăn", chấp nhận "vì đàn vì tổ nên thân gầy gò". → Lối sống cần cù, có trách nhiệm, biết lo xa.

Qua lời thoại, kiến còn cảnh báo: lối sống đục khoét của mối sẽ làm "nhà kia đổ xuống", tự hại mình.

Bài 7: Thiện cảm của người kể chuyện dành cho ai?

Đề: Theo em, thiện cảm của người kể chuyện được dành cho mối hay cho kiến? Vì sao em khẳng định như vậy?

Trả lời:

Thiện cảm của người kể chuyện dành cho con kiến. Vì:

  • Lời của kiến được trình bày như những chân lý đúng đắn, sâu sắc: "Hễ có làm thì mới có ăn", "Vì đàn vì tổ nên thân gầy gò".
  • Tác giả để kiến nói lời cuối, cảnh báo hậu quả lối sống phá hoại của mối ("Nhà kia đổ xuống đi đời các anh").
  • Hình ảnh mối béo tốt nhưng lười biếng, phá hoại được miêu tả với thái độ phê phán.

Qua đó, người kể ca ngợi lối sống chăm chỉ, vì tập thể của kiến và chê trách lối sống lười nhác, ích kỷ của mối.

Bài 8: Điểm giống nhau về nội dung của ba truyện ngụ ngôn

Đề: Nêu những điểm giống nhau về nội dung của ba truyện ngụ ngôn: Đẽo cày giữa đường, Ếch ngồi đáy giếng, Con mối và con kiến.

Trả lời:

Cả ba truyện đều:

  • Mượn chuyện loài vật hoặc con người để nêu lên bài học, lời khuyên về cách sống, cách ứng xử.
  • Phê phán những thói xấu của con người: ba phải, thiếu chính kiến (Đẽo cày giữa đường); kiêu ngạo, hiểu biết hạn hẹp (Ếch ngồi đáy giếng); lười biếng, ích kỷ (Con mối và con kiến).
  • Gửi gắm bài học sâu sắc về lẽ sống và cách làm người, có ý nghĩa giáo dục, răn dạy.

Viết kết nối với đọc

Đề: Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) có sử dụng thành ngữ đẽo cày giữa đường.

Đoạn văn tham khảo:

Trong cuộc sống, mỗi người cần có lập trường vững vàng và chính kiến riêng của mình. Nếu việc gì cũng nghe theo ý kiến của người khác mà không suy xét, ta sẽ chẳng bao giờ đạt được kết quả như mong muốn. Bạn Lan lớp em là một ví dụ: khi làm bài thuyết trình, ai góp ý gì bạn cũng sửa theo, cuối cùng bài làm rối tung và lạc đề. Đúng là đẽo cày giữa đường, vừa mất công sức vừa không hoàn thành nhiệm vụ. Vì thế, em luôn tự nhắc mình phải biết lắng nghe có chọn lọc và quyết định dựa trên suy nghĩ của bản thân. Có như vậy, chúng ta mới làm chủ được công việc và thành công.

(Thành ngữ "đẽo cày giữa đường" được in đậm, chỉ người không có chính kiến, ai nói gì cũng nghe nên thất bại.)


Thực hành tiếng Việt – THÀNH NGỮ

Bài 1: Chỉ ra và giải nghĩa thành ngữ

Đề: Chỉ ra và giải nghĩa thành ngữ trong các câu sau:

a. Tất cả những cái đó cám dỗ tôi hơn là quy tắc về phân từ; nhưng tôi cưỡng lại được, và ba chân bốn cẳng chạy đến trường. (An-phông-xơ Đô-đê, Buổi học cuối cùng)

b. Lại có khi tôi cảm thấy mình dũng mãnh đến nỗi dù có phải chuyển núi dời sông tôi cũng sẵn sàng. (Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Người thầy đầu tiên)

Trả lời:

CâuThành ngữNghĩa
aba chân bốn cẳngchạy thật nhanh, rất vội vã, hấp tấp
bchuyển núi dời sônglàm được những việc lớn lao, phi thường, đòi hỏi sức mạnh và ý chí lớn

Giải thích thêm: Đây là những tổ hợp từ cố định, có cấu tạo chặt chẽ, nghĩa hàm súc và giàu hình ảnh (tính hình tượng). Ta không hiểu theo nghĩa đen từng từ mà hiểu theo nghĩa chung của cả cụm. Đó chính là đặc điểm nhận biết của thành ngữ.


Cô lưu ý nhỏ: hai trang ảnh các em gửi thực ra là trang 9 (bài thơ) và trang 10 (câu hỏi + Thực hành tiếng Việt). Phần Thực hành tiếng Việt còn tiếp tục sang trang sau, nếu em gửi trang tiếp theo cô sẽ giải nốt phần còn lại nhé.

Chế độ đọc sách →