Giải Ngữ Văn 7 - Tập 1 trang 110
Lời giải chi tiết SGK Lớp 7 · Môn Ngữ Văn · Trang 110–111
Trước khi vào phần bài tập, mình tóm tắt nhanh phần nội dung ở trang 109 để các em nắm bối cảnh nhé.
Tóm tắt lý thuyết & văn bản
Văn bản đọc là đoạn trích bài tùy bút Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt của Vũ Bằng (1913 – 1984), trích từ tập Thương nhớ Mười Hai (NXB Kim Đồng, 1999).
- Vũ Bằng là nhà văn, nhà báo, có sở trường về truyện ngắn, tùy bút, bút kí. Văn ông giàu chất trữ tình, chất thơ, đầy cảm xúc, tinh tế. Tác phẩm tiêu biểu: Miếng ngon Hà Nội (1960), Món lạ miền Nam (1969), Thương nhớ Mười Hai (1972).
- Thương nhớ Mười Hai được viết khi tác giả sống ở miền Nam, xa quê hương miền Bắc. Tác phẩm thể hiện nỗi nhớ quê hương, gia đình da diết qua sự hồi tưởng về cảnh sắc thiên nhiên, phố xá, cuộc sống Hà Nội. Tập gồm 13 bài tùy bút (12 bài về các tháng và 1 bài về Tết).
- Đoạn trích miêu tả cảnh sắc và không khí mùa xuân Hà Nội (tháng Giêng) với mưa xuân, gió lành lạnh, đêm trăng, cùng nhịp sống êm đềm sau Tết.
Phần TRẢ LỜI CÂU HỎI
Bài 1: Chi tiết miêu tả không gian mùa xuân Hà Nội và không gian gia đình
Đề: Mạch cảm xúc của tác giả được khơi dậy qua sự hồi tưởng về không gian. Tìm chi tiết miêu tả không gian đặc trưng của mùa xuân Hà Nội (vào đầu tháng Giêng và sau rằm tháng Giêng) và chi tiết miêu tả không gian gia đình.
Lời giải:
| Không gian | Chi tiết tiêu biểu |
|---|---|
| Mùa xuân đầu tháng Giêng | Mưa riêu riêu, gió lành lạnh; tiếng nhạn kêu trong đêm xanh; tiếng trống chèo vọng lại từ thôn xóm; câu hát huê tình của cô gái; trời đất mang mang, rạo rực nhựa sống. |
| Sau rằm tháng Giêng | Trời đã hết nồm, mưa xuân thay mưa phùn; nền trời trong có làn sáng hồng hồng rung động "như cánh con ve mới lột"; trên giàn hoa lí ong đi kiếm nhị hoa; cuối tháng Giêng có đêm trời sáng lung linh như ngọc, trăng mọc cao lên đỉnh đầu. |
| Không gian gia đình | Bữa cơm giản dị: cá om với thịt thăn, lá tía tô thái nhỏ, bát canh trứng cua vắt chanh; cánh màn điều treo trước bàn thờ ông vải đã hạ xuống từ hôm "hóa vàng"; nhang trầm, đèn nến; bầu không khí gia đình đoàn tụ, đầm ấm. |
→ Mạch cảm xúc đi từ không gian rộng (thiên nhiên đất trời) đến không gian hẹp (gia đình), thể hiện nỗi nhớ quê hương sâu nặng.
Bài 2: Sức sống của thiên nhiên và con người trong cái rét ngọt đầu xuân
Đề: Trong cái rét ngọt đầu xuân, sức sống của thiên nhiên và con người được khơi dậy như thế nào?
Lời giải:
- Thiên nhiên: Tràn đầy nhựa sống. Cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa lí khoe sắc, ong đi kiếm nhị; trời đất "mang mang" sức xuân, có làn sáng hồng rung động.
- Con người: Lòng người "rạo rực", "trẻ ra"; tim "đập mạnh hơn", "thèm khát yêu thương"; con người muốn mở cửa lòng, muốn yêu thương, muốn sống và phấn chấn. Như tác giả viết, sức xuân làm cho người ta "sống lại" và "thèm khát yêu thương thực sự".
→ "Rét ngọt" là cái rét nhẹ nhàng, không khắc nghiệt, nên thay vì làm tê cứng, nó lại đánh thức, khơi dậy sức sống cho cả vạn vật và con người.
Bài 3: Nhận xét cách tác giả diễn tả cảm giác của lòng mình
Đề: Nêu nhận xét của em về cách tác giả diễn tả cảm giác của lòng mình khi mùa xuân đến.
Lời giải:
- Tác giả diễn tả cảm xúc rất tinh tế và chân thành, dùng những hình ảnh so sánh, liên tưởng độc đáo (lòng ấm áp "như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở", nhựa sống "căng lên trong lộc của loài nai").
- Cách viết giàu chất trữ tình, kết hợp tả cảnh với tả tình, biến cảm xúc trừu tượng thành những cảm giác cụ thể, sống động.
- Qua đó cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và đặc biệt gắn bó tha thiết với quê hương Hà Nội.
Bài 4: Mạch triển khai chủ đề từ "ai cũng chuộng mùa xuân"
Đề: Tác giả đã triển khai bài tùy bút theo mạch chủ đề về mùa xuân bắt đầu từ "ai cũng chuộng mùa xuân" như thế nào?
Lời giải:
Mạch triển khai đi từ cái chung đến cái riêng:
- Mở đầu bằng quy luật tình cảm tự nhiên, phổ quát: ai cũng chuộng, cũng yêu mùa xuân (như một lẽ tất yếu, không gì ngăn cấm được).
- Từ tình yêu chung ấy, tác giả đi vào tình yêu riêng của mình với mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân Hà Nội – nơi gắn bó máu thịt.
- Cụ thể hóa bằng cảnh sắc, không khí đặc trưng (mưa riêu riêu, gió lành lạnh, đêm trăng, không khí gia đình).
- Cuối cùng dồn lại thành nỗi nhớ thương da diết, khẳng định mùa xuân Hà Nội là "mùa xuân của tôi", "mùa xuân thần thánh".
→ Cách triển khai tự nhiên, lô-gíc, đưa người đọc từ tình cảm phổ quát đến tình cảm riêng tư, sâu nặng.
Bài 5: Ý nghĩa các cụm từ "mùa xuân của tôi", "mùa xuân thần thánh của tôi"...
Đề: Khi nói về mùa xuân, tác giả dùng các cụm từ như mùa xuân của tôi, mùa xuân thần thánh của tôi, mùa xuân của Hà Nội thân yêu. Cách viết này cho em hiểu điều gì về cuộc sống và tình cảm riêng của người viết?
Lời giải:
- Các cụm từ có từ "của tôi" cho thấy mùa xuân không còn là mùa xuân chung chung mà là mùa xuân riêng, gắn với kỉ niệm, với tâm hồn tác giả.
- Từ "thần thánh" thể hiện sự trân trọng, thiêng liêng hóa mùa xuân quê hương – như một báu vật tinh thần.
- Cụm "Hà Nội thân yêu" khẳng định tình yêu quê hương cụ thể, sâu đậm.
→ Cách viết này cho thấy tác giả đang sống xa quê (ở miền Nam), nên mùa xuân Hà Nội trở thành nỗi nhớ thiêng liêng, là tài sản tinh thần riêng tư mà ông nâng niu, ôm ấp trong lòng. Đó là tình yêu quê hương tha thiết, nỗi nhớ da diết của người con xa xứ.
Bài 6: Câu văn như lời trò chuyện tâm tình
Đề: Chọn một câu văn cho thấy lời văn của bài tùy bút như lời trò chuyện tâm tình. Theo em, đặc điểm đó của lời văn có tác động như thế nào đến cảm nhận của người đọc?
Lời giải:
- Câu văn gợi ý: "Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến." (hoặc câu: "Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội...").
- Đặc điểm: Dùng từ gọi đáp ("mùa xuân ơi"), từ cảm thán ("Đẹp quá đi"), giọng điệu thủ thỉ, bộc bạch trực tiếp cảm xúc như đang tâm sự với người thân.
- Tác động: Tạo cảm giác gần gũi, thân mật, cuốn người đọc vào dòng cảm xúc của tác giả; khiến người đọc đồng cảm, như được sẻ chia, từ đó cảm nhận sâu sắc hơn tình yêu quê hương trong bài.
Phần VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Đề: Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu cảm nhận của em về cảnh sắc và không khí mùa xuân.
Đoạn văn tham khảo:
Mỗi độ xuân về, lòng em lại rộn lên một niềm vui khó tả. Khi những hạt mưa xuân riêu riêu giăng nhẹ và làn gió lành lạnh thổi qua, vạn vật như bừng tỉnh sau giấc ngủ đông dài. Cây cối đâm chồi nảy lộc, muôn hoa khoe sắc, đàn chim líu lo ríu rít trên cành. Không khí ngày xuân thật ấm áp và đầm ấm, nhà nhà sum họp bên mâm cơm đoàn tụ, trẻ con xúng xính áo mới. Đâu đó vang lên tiếng trống hội, tiếng cười nói rộn ràng làm lòng người thêm phấn chấn. Em cảm thấy trong mình như có một nguồn sống mới đang trào dâng, thôi thúc em yêu thương và trân quý cuộc sống hơn. Mùa xuân thật đẹp, thật đáng yêu biết bao!
Phần THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
Bài tập 1: Dấu gạch ngang
Đề: Đọc hai câu văn sau và thực hiện những yêu cầu bên dưới:
a. Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng… b. Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
(1) Công dụng của dấu gạch ngang:
- Ở câu a: hai dấu gạch ngang dùng theo cặp để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích (chú thích thêm cho "mùa xuân của tôi" chính là mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội).
- Ở câu b: một dấu gạch ngang dùng để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích cho cụm "mùa xuân ơi" (làm rõ đó là mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến).
(2) Nếu không có các cụm từ được tách ra bởi dấu gạch ngang:
- Câu văn vẫn đúng ngữ pháp và truyền đạt được ý cơ bản, nhưng nội dung sẽ trở nên chung chung, kém cụ thể.
- Người đọc sẽ không hiểu rõ "mùa xuân của tôi" là mùa xuân nào, mất đi sắc thái nhấn mạnh, mất đi tình cảm gắn bó tha thiết của tác giả với mùa xuân Hà Nội, Bắc Việt.
- Câu văn cũng kém phần biểu cảm, không còn giọng tâm tình, trữ tình như nguyên bản.
→ Dấu gạch ngang giúp bổ sung thông tin, làm rõ và nhấn mạnh đối tượng, đồng thời tăng tính biểu cảm cho câu văn.
Bài tập 2: Biện pháp tu từ so sánh
Đề: Chỉ ra biện pháp tu từ so sánh trong các câu sau. Cho biết điểm tương đồng giữa các đối tượng được so sánh với nhau trong mỗi trường hợp và nêu ý nghĩa của sự tương đồng đó:
a. Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải là vì thế.
Lời giải:
- Biện pháp so sánh: đôi mày ai được so sánh với trăng mới in ngần (qua từ so sánh "như").
- Điểm tương đồng: Đôi lông mày của người con gái thanh tú, cong cong, mảnh và sáng đẹp – giống như vầng trăng non mới mọc in dấu mờ ảo, thanh khiết trên nền trời.
- Ý nghĩa: Hình ảnh so sánh làm nổi bật vẻ đẹp dịu dàng, thanh tao, đầy thơ mộng của người con gái. Qua đó thể hiện tâm hồn lãng mạn, nhạy cảm và tình yêu cái đẹp của tác giả; đồng thời góp phần khắc họa không khí trữ tình, nên thơ của mùa xuân.
