Giải Ngữ Văn 8 - Tập 1 trang 45
Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 45–46
Tóm tắt nội dung chính
Hai trang này gồm hai phần:
- Bài tập 3 phần Thực hành tiếng Việt về từ tượng hình, từ tượng thanh (qua đoạn trích Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi).
- Văn bản 2: bài thơ Thiên Trường vãn vọng (Ngắm cảnh Thiên Trường trong buổi chiều tà) của Trần Nhân Tông, kèm phần Trước khi đọc, Sau khi đọc và 5 câu hỏi.
Kiến thức nền cần nhớ:
- Từ tượng hình: gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật.
- Từ tượng thanh: mô phỏng âm thanh của tự nhiên, con người.
- Thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật: 4 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần ở cuối các câu 1, 2, 4.
Bài 3: Tìm hiểu từ tượng hình, từ tượng thanh trong đoạn văn
Đề bài: Đọc đoạn văn (trích Đất rừng phương Nam – Đoàn Giỏi):
"Giữa vùng cỏ tranh khô vàng, gió thổi lao xao, một bầy chim hàng nghìn con vụt cất cánh bay lên. Chim áo già màu nâu, chim manh manh mỏ đỏ bóng như màu thuốc đánh móng tay, lại có bộ lông xám tro điểm những chấm trắng chấm đỏ li ti rất đẹp mắt... Những con chim nhỏ bay vù vù kêu líu ríu lượn vòng trên cao một chốc, lại đáp xuống phía sau lưng chúng tôi."
a. Liệt kê các từ tượng hình và từ tượng thanh
| Loại từ | Các từ trong đoạn văn |
|---|---|
| Từ tượng hình | li ti, lượn vòng (gợi hình dáng, trạng thái) |
| Từ tượng thanh | lao xao, vù vù, líu ríu |
Giải thích cách nhận biết:
- "li ti": gợi hình ảnh những chấm trắng, chấm đỏ rất nhỏ → tượng hình.
- "lao xao": mô phỏng tiếng gió thổi qua cỏ tranh → tượng thanh.
- "vù vù": mô phỏng tiếng cánh chim bay nhanh → tượng thanh.
- "líu ríu": mô phỏng tiếng chim kêu ríu rít → tượng thanh.
b. Phân tích tác dụng của một từ tượng hình và một từ tượng thanh
Từ tượng hình "li ti":
- Gợi tả những chấm trắng, chấm đỏ rất nhỏ trên bộ lông chim một cách sinh động, cụ thể.
- Giúp người đọc hình dung rõ vẻ đẹp tinh tế, đáng yêu của đàn chim, làm bức tranh thiên nhiên thêm rực rỡ.
Từ tượng thanh "líu ríu":
- Mô phỏng âm thanh tiếng chim kêu rộn ràng, vui tươi.
- Tạo cảm giác về một khung cảnh thiên nhiên tràn đầy sức sống, nhộn nhịp, gần gũi.
Nhờ những từ tượng hình, tượng thanh này, đoạn văn vừa giàu hình ảnh vừa giàu âm thanh, khiến cảnh vùng cỏ tranh và đàn chim hiện lên thật sống động trước mắt người đọc.
Văn bản 2: Thiên Trường vãn vọng (Trần Nhân Tông)
Trước khi đọc
Câu hỏi: Em có thích ngắm cảnh hoàng hôn không? Vì sao?
Gợi ý trả lời: Em rất thích ngắm cảnh hoàng hôn. Vì lúc ấy bầu trời nhuốm màu vàng cam ấm áp, không gian trở nên yên bình, dịu nhẹ; ngắm hoàng hôn giúp em thư giãn, lắng đọng tâm hồn sau một ngày học tập, làm việc.
Nội dung bài thơ (để tiện theo dõi)
Dịch thơ (Ngô Tất Tố dịch):
Trước xóm sau thôn tựa khói lồng, Bóng chiều dường có lại dường không. Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết, Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Trả lời câu hỏi (trang 44)
Câu 1: Xác định thể thơ
Đáp án: Bài thơ thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Căn cứ nhận biết:
- Bài thơ có 4 câu (tứ tuyệt).
- Mỗi câu có 7 chữ (thất ngôn).
- Gieo vần ở cuối các câu 1, 2 và 4 (trong phiên âm: yên – biên – điền).
Câu 2: Thời gian được tái hiện ở hai câu thơ đầu
"Trước xóm sau thôn tựa khói lồng, Bóng chiều dường có lại dường không."
Đáp án: Cảnh vật được tái hiện vào lúc chiều tà, hoàng hôn buông xuống.
Mối liên hệ giữa thời gian và hình ảnh:
- Vì là buổi chiều muộn nên có lớp sương (khói) bao phủ trước xóm, sau thôn, khiến cảnh vật mờ ảo "tựa khói lồng".
- Ánh nắng chiều yếu ớt, mờ nhạt nên cảnh vật hiện ra "dường có lại dường không" – nửa thực nửa hư.
- Thời điểm hoàng hôn chính là nguyên nhân tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, thơ mộng, tĩnh lặng của bức tranh.
Câu 3: Bức tranh cuộc sống ở hai câu thơ cuối
"Mục đồng sáo vẳng, trâu về hết, Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng."
Đáp án: Hai câu cuối gợi lên một bức tranh cuộc sống thanh bình, ấm áp, đầy sức sống nơi làng quê.
Phân tích:
- Hình ảnh mục đồng (trẻ chăn trâu) thổi sáo, lùa trâu về → cuộc sống lao động yên ả, vui tươi.
- Tiếng sáo vẳng lại → âm thanh quen thuộc, gợi sự bình yên.
- Đàn cò trắng từng đôi liệng xuống đồng → cảnh thiên nhiên hài hòa, sinh động, gợi cảm giác êm đềm, no đủ.
→ Bức tranh có cả con người và thiên nhiên cùng hòa quyện trong khung cảnh thôn quê thanh bình, trù phú.
Câu 4: Các khoảng không gian theo trình tự miêu tả
Đáp án: Bài thơ mở rộng dần qua nhiều khoảng không gian:
| Thứ tự | Khoảng không gian | Câu thơ |
|---|---|---|
| 1 | Trước xóm, sau thôn (làng quê) | Câu 1 |
| 2 | Bầu trời lúc bóng chiều | Câu 2 |
| 3 | Đường làng – nơi mục đồng lùa trâu về | Câu 3 |
| 4 | Cánh đồng – nơi cò trắng đáp xuống | Câu 4 |
→ Không gian được miêu tả từ gần ra xa, từ thôn xóm đến bầu trời rồi trở về cánh đồng, tạo nên bức tranh toàn cảnh hài hòa giữa con người và thiên nhiên.
Câu 5: Cảm xúc, tâm trạng của tác giả
Đáp án: Qua bức tranh thiên nhiên và cuộc sống, tác giả bộc lộ:
- Tình yêu thiên nhiên, sự gắn bó tha thiết với cảnh sắc quê hương, đất nước.
- Niềm vui, sự thanh thản, ung dung trước cảnh làng quê thanh bình.
- Tình cảm gắn bó với cuộc sống bình dị của nhân dân.
Điều đáng quý là tác giả tuy là một vị vua (Trần Nhân Tông) nhưng tâm hồn lại hết sức gần gũi, bình dị, yêu mến cảnh sắc và cuộc sống nơi thôn dã. Điều đó cho thấy mối quan hệ gắn bó giữa nhà vua với nhân dân, đất nước.
Tóm lại, qua hai trang này em cần nắm chắc: cách nhận biết và phân tích từ tượng hình – tượng thanh, đồng thời cảm nhận được vẻ đẹp thanh bình của bức tranh chiều quê và tấm lòng yêu nước, yêu dân của Trần Nhân Tông trong Thiên Trường vãn vọng.
