Giải Ngữ Văn 8 - Tập 1 trang 63

Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 63–64

Đây là phần giữa và cuối văn bản "Hịch tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn (Hưng Đạo Đại Vương). Trang sách không có bài tập tính toán, chỉ có phần văn bản kèm hai hộp "Theo dõi" – đây là những câu hỏi định hướng đọc hiểu trong khi đọc. Cô sẽ tóm tắt nội dung, giải thích chú thích, rồi trả lời chi tiết các câu hỏi "Theo dõi".


Tóm tắt nội dung văn bản (phần trang 61–62)

Phần này nằm sau khi tác giả đã nêu gương các trung thần nghĩa sĩ và lên án sứ giặc. Nội dung chính gồm:

  1. Nỗi lòng của chủ tướng: Trần Quốc Tuấn bày tỏ lòng căm thù giặc tột độ – "tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa", sẵn sàng hi sinh "trăm thân phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác gói trong da ngựa".
  1. Ân tình với các tì tướng: Ông nhắc lại cách đối đãi hậu hĩnh: không áo thì cho áo, không cơm thì cho cơm, thăng chức, cấp bổng, cùng sống chết nơi trận mạc, cùng vui cười lúc nhàn hạ – chẳng kém gì Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang đối với tướng sĩ.
  1. Phê phán thái độ sai trái của tì tướng: Ông chỉ ra lối sống cầu an, hưởng lạc của họ (chọi gà, đánh bạc, săn bắn, ham rượu ngon, mê tiếng hát, quyến luyến vợ con...) và vạch rõ hậu quả khủng khiếp nếu giặc Mông Cổ tràn sang: mất hết thái ấp, bổng lộc, gia quyến tan nát, mồ mả tổ tiên bị quật, mang tiếng nhục muôn đời.
  1. Khuyên răn và kêu gọi hành động: Ông khuyên phải cảnh giác ("đặt mồi lửa vào dưới đống củi"), chăm lo "huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên", quyết tâm "bêu đầu Hốt Tất Liệt", "làm rữa thịt Vân Nam Vương". Nếu làm được thì hưởng vinh hoa muôn đời.
  1. Lời kết: Ông giới thiệu cuốn Binh thư yếu lược do mình soạn, đặt ra lựa chọn dứt khoát: theo lời dạy là "đạo thần chủ", trái lời dạy là "kẻ nghịch thù". Khẳng định viết bài hịch này để tướng sĩ "biết bụng ta".

Giải thích các chú thích quan trọng

Từ ngữNghĩa
Tể phụChức quan đầu triều giúp vua trị nước (thường là Tể tướng)
Hốt Tất LiệtVua Thế Tổ nhà Nguyên (Mông Cổ)
Vân Nam VươngThoát Hoan – con thứ chín Hốt Tất Liệt, cầm đầu quân xâm lược nước ta lần hai
Nghìn xác gói trong da ngựaÝ chí làm trai phải xả thân nơi chiến trường
Nhạc thái thườngNhạc triều đình dùng trong tế lễ, phải dùng đãi sứ giặc nên là điều nhục
Đặt mồi lửa dưới đống củiPhải cảnh giác trước nguy cơ rình rập
Bàng Mông, Hậu NghệHai nhân vật bắn cung giỏi trong thần thoại Trung Quốc
Binh thư yếu lượcSách tóm tắt binh pháp do Trần Quốc Tuấn soạn
Đạo thần chủĐạo nghĩa giữa bề tôi (thần) và chủ tướng (chủ)

Trả lời các câu hỏi "Theo dõi"

Câu hỏi 1 (hộp Theo dõi, trang 61)

Đề: "Các bằng chứng và lí lẽ Trần Quốc Tuấn sử dụng để khẳng định các tì tướng đang suy nghĩ và hành động không đúng."

Trả lời:

Trần Quốc Tuấn đưa ra hệ thống bằng chứng và lí lẽ rất chặt chẽ:

  • Bằng chứng về thái độ vô cảm: "nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục mà không biết thẹn"; làm tướng mà "hầu quân giặc mà không biết tức", "nghe nhạc thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm".
  • Bằng chứng về lối sống hưởng lạc, cầu an: chọi gà, đánh bạc, vui thú vườn ruộng, quyến luyến vợ con, lo làm giàu, ham săn bắn, thích rượu ngon, mê tiếng hát.
  • Lí lẽ về hậu quả: Tác giả lập luận theo kiểu giả định – nếu giặc tràn sang thì những thú vui ấy đều vô dụng: "cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp", "mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược", "chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết"...

Vì sao dùng cách này? Cách lập luận đối lập (thú vui >< tai họa) khiến tì tướng thấy rõ sự phù phiếm trong lối sống của mình, đánh thẳng vào lòng tự trọng và trách nhiệm của họ.


Câu hỏi 2 (hộp Theo dõi, trang 62)

Đề: "Những lí lẽ Trần Quốc Tuấn dùng để thuyết phục các tì tướng nghe theo lời khuyên của chủ tướng."

Trả lời:

Trần Quốc Tuấn thuyết phục bằng hai hướng lí lẽ song song – nêu hậu quả nếu không nghe và lợi ích nếu nghe theo:

  • Lời răn cảnh giác: dẫn câu "đặt mồi lửa vào dưới đống củi", "kiềng canh nóng mà thổi rau nguội" để nhắc các tì tướng luôn phải đề phòng nguy cơ.
  • Lời khuyên hành động cụ thể: "Huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên", khiến ai cũng giỏi như Bàng Mông, Hậu Nghệ, để có thể "bêu đầu Hốt Tất Liệt", "làm rữa thịt Vân Nam Vương".
  • Viễn cảnh tốt đẹp nếu nghe theo: thái ấp vững bền, bổng lộc đời đời, gia quyến êm ấm, vợ con bách niên giai lão, tổ tông được thờ cúng, tên tuổi lưu thơm sử sách.
  • Lựa chọn dứt khoát ở cuối: chuyên tập Binh thư yếu lược theo lời dạy thì là "đạo thần chủ"; trái lời dạy thì là "kẻ nghịch thù".

Vì sao dùng cách này? Tác giả vừa "đánh" vào nỗi sợ (mất mát, nhục nhã), vừa "mở" ra niềm hi vọng (vinh hoa, danh tiếng), lại đặt ra ranh giới đúng – sai rõ ràng. Cách kết hợp tình cảm và lí trí này tạo nên sức thuyết phục mạnh mẽ, khơi dậy lòng yêu nước và ý chí chiến đấu của tướng sĩ.


Nghệ thuật nổi bật cần ghi nhớ

  • Lập luận chặt chẽ, sắc bén: kết hợp lí lẽ và dẫn chứng, dùng nhiều phép so sánh, đối lập, tăng tiến.
  • Giọng văn linh hoạt: lúc tha thiết bộc bạch nỗi lòng, lúc nghiêm khắc phê phán, lúc động viên khích lệ.
  • Sử dụng câu văn biền ngẫu, điệp ngữ ("chẳng những... mà...") tạo nhịp điệu hùng hồn, dồn dập.

Văn bản kết thúc bằng lời đề tên dịch giả Bùi Văn Nguyên, in trong Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (NXB Văn hoá, Hà Nội, 1962).

Em cần cô đào sâu thêm phần nào – ví dụ phân tích lòng yêu nước của Trần Quốc Tuấn hay đặc điểm thể loại hịch – thì nói cô nhé!

Chế độ đọc sách →