Giải Ngữ Văn 8 - Tập 1 trang 69
Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 69–70
Trước khi vào bài, mình lưu ý nhỏ: tiêu đề đề bài ghi "Trang 69 – 70" nhưng số trang in trên ảnh thực tế là 67 và 68. Mình sẽ giải đúng theo nội dung trên ảnh nhé.
Tóm tắt nội dung chính
Hai trang này gồm hai phần:
- Trang 67: Phần SAU KHI ĐỌC văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta (Hồ Chí Minh) – giới thiệu tác giả, xuất xứ và hệ thống câu hỏi đọc hiểu.
- Trang 68: Thực hành tiếng Việt – Đoạn văn song song và đoạn văn phối hợp.
Kiến thức cần nhớ về hai kiểu đoạn văn:
- Đoạn văn song song: các câu trong đoạn ngang hàng nhau, không có câu chủ đề rõ rệt, nhưng cùng hướng về một chủ đề chung.
- Đoạn văn phối hợp: có câu chủ đề đặt ở đầu đoạn (nêu ý khái quát) và một câu kết ở cuối đoạn (khẳng định, mở rộng), các câu giữa triển khai làm rõ.
Phần TRẢ LỜI CÂU HỎI (Trang 67)
Bài 1: Đối tượng hướng tới của văn bản
Đề: Người viết văn bản nghị luận bao giờ cũng hướng tới đối tượng cần thuyết phục. Theo em, văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta hướng tới đối tượng nào?
Trả lời:
Văn bản là một trích đoạn trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II (1951) của Đảng Lao động Việt Nam, nên đối tượng hướng tới trước hết là các đại biểu dự Đại hội, tức cán bộ, đảng viên.
Rộng hơn, văn bản hướng tới toàn thể nhân dân Việt Nam đang trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bác muốn khơi dậy, cổ vũ và biến lòng yêu nước thành hành động cụ thể để phục vụ kháng chiến.
Bài 2: Vì sao trích đoạn vẫn là một văn bản hoàn chỉnh
Đề: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta là một trích đoạn của Báo cáo Chính trị. Điều gì cho thấy phần trích này vẫn thể hiện đầy đủ các đặc điểm của một văn bản hoàn chỉnh?
Trả lời:
Dù chỉ là một đoạn trích, văn bản vẫn hoàn chỉnh vì hội đủ các yếu tố:
- Có luận đề rõ ràng: tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
- Có bố cục ba phần: mở bài (nêu vấn đề), thân bài (chứng minh bằng dẫn chứng lịch sử và hiện tại), kết bài (nhiệm vụ, lời kêu gọi).
- Hệ thống luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng mạch lạc, liên kết chặt chẽ.
- Có ý nghĩa trọn vẹn, người đọc hiểu được trọn vẹn vấn đề mà không cần đọc thêm phần trước hoặc sau.
Bài 3: Hệ thống luận điểm và nội dung bao quát
Đề: Bài nghị luận có mấy luận điểm? Nêu từng luận điểm và chỉ ra mối quan hệ giữa các luận điểm, từ đó rút ra nội dung bao quát của văn bản.
Trả lời:
Bài nghị luận có ba luận điểm chính:
| Luận điểm | Nội dung |
|---|---|
| 1 (Mở đầu) | Khẳng định: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước – đó là truyền thống quý báu. |
| 2 (Thân bài) | Chứng minh lòng yêu nước trong lịch sử (các vị anh hùng dân tộc) và trong hiện tại (kháng chiến chống Pháp). |
| 3 (Kết bài) | Nhiệm vụ: phải làm cho tinh thần yêu nước được phát huy, thể hiện thành hành động cụ thể. |
Mối quan hệ: Ba luận điểm gắn kết theo trình tự nêu vấn đề → chứng minh vấn đề → giải quyết vấn đề. Luận điểm 1 nêu nhận định khái quát, luận điểm 2 dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ, luận điểm 3 rút ra hành động.
Nội dung bao quát: Văn bản khẳng định và ca ngợi truyền thống yêu nước nồng nàn của nhân dân ta, đồng thời kêu gọi phát huy truyền thống đó thành hành động thiết thực trong kháng chiến.
Bài 4: Bằng chứng và lí do gọi là "truyền thống quý báu"
Đề: Căn cứ vào những bằng chứng khách quan nào mà tác giả khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước"? Vì sao lòng yêu nước nồng nàn của nhân dân ta được tác giả xem là một "truyền thống quý báu"?
Trả lời:
Những bằng chứng khách quan:
- Trong lịch sử: các trang sử vẻ vang của thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,... đã đánh đuổi giặc ngoại xâm.
- Trong hiện tại (kháng chiến): mọi tầng lớp, lứa tuổi, vùng miền đều một lòng yêu nước – từ cụ già đến nhi đồng, từ kiều bào đến đồng bào vùng tạm chiếm, từ chiến sĩ ngoài mặt trận đến công chức hậu phương, phụ nữ, công nhân, nông dân, điền chủ,...
Lí do gọi là "truyền thống quý báu":
- Lòng yêu nước được nuôi dưỡng, trao truyền, lặp lại bền vững qua nhiều thế hệ, từ xưa đến nay → đó là một truyền thống.
- Nó là sức mạnh tinh thần giúp dân tộc chiến thắng mọi kẻ thù, bảo vệ độc lập → vô cùng quý báu, đáng tự hào và cần gìn giữ.
Bài 5: Nhận thức và hành động tác giả muốn hướng tới
Đề: Văn nghị luận của Hồ Chí Minh bao giờ cũng hướng người đọc đi từ nhận thức tới hành động. Qua văn bản này, tác giả muốn người đọc nhận thức được điều gì và có hành động như thế nào? Những nhận thức và hành động đó có ý nghĩa như thế nào trong đời sống cộng đồng?
Trả lời:
Về nhận thức: Người đọc cần hiểu rằng dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, đó là sức mạnh to lớn đã làm nên những chiến công lịch sử.
Về hành động: Cần làm cho tinh thần yêu nước ấy được phát huy mạnh mẽ trong mọi công việc kháng chiến – không để nó "cất giấu kín đáo" mà phải biến thành hành động cụ thể, thiết thực.
Ý nghĩa trong đời sống cộng đồng:
- Tạo nên sự đoàn kết, gắn bó giữa các tầng lớp nhân dân.
- Khơi dậy sức mạnh tập thể để vượt qua khó khăn, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Bồi đắp ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân với cộng đồng, đất nước.
Bài 6: Yếu tố làm nên sức thuyết phục và ý nghĩa thời đại
Đề: Theo em, những yếu tố nào đã góp phần làm nên sức thuyết phục của bài nghị luận này? Vấn đề được bàn luận trong văn bản còn có ý nghĩa trong thời đại ngày nay nữa không? Vì sao?
Trả lời:
Những yếu tố làm nên sức thuyết phục:
- Luận điểm rõ ràng, bố cục chặt chẽ, lập luận mạch lạc.
- Dẫn chứng phong phú, tiêu biểu, sắp xếp theo trình tự thời gian (xưa – nay) và bao quát mọi đối tượng.
- Lí lẽ sắc bén kết hợp tình cảm chân thành.
- Hình ảnh so sánh sinh động ("tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý..."), điệp ngữ, liệt kê tạo nhịp điệu, tăng sức cuốn hút.
Ý nghĩa trong thời đại ngày nay: Vấn đề vẫn còn nguyên giá trị. Vì lòng yêu nước không chỉ thể hiện khi chống ngoại xâm mà còn ở việc học tập, lao động, sáng tạo, bảo vệ chủ quyền, giữ gìn văn hóa và xây dựng đất nước giàu mạnh. Mỗi thời đại, lòng yêu nước có biểu hiện khác nhau nhưng luôn cần thiết.
Phần VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC (Trang 67)
Đề: Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trả lời cho câu hỏi: Phải chăng lòng yêu nước của mỗi người chỉ cần thể hiện khi Tổ quốc bị xâm lăng?
Đoạn văn tham khảo:
Lòng yêu nước không phải chỉ cần thể hiện khi Tổ quốc bị xâm lăng. Đúng là trong chiến tranh, yêu nước là cầm súng đánh giặc, là sẵn sàng hi sinh để bảo vệ độc lập. Nhưng trong thời bình, lòng yêu nước vẫn cần được nuôi dưỡng và bộc lộ mỗi ngày. Đó là khi học sinh chăm chỉ học tập, rèn luyện để trở thành người có ích. Đó là khi người lao động cần mẫn làm việc, sáng tạo để góp phần xây dựng đất nước. Yêu nước còn là giữ gìn tiếng nói, văn hóa, bảo vệ môi trường và chủ quyền quê hương. Một hành động nhỏ như nhặt rác, tuân thủ luật pháp hay tự hào về dân tộc cũng là biểu hiện của tình yêu nước. Như vậy, lòng yêu nước cần được thể hiện ở mọi lúc, mọi nơi chứ không chỉ trong hoàn cảnh chiến tranh. Bởi mỗi việc làm tốt đẹp hằng ngày đều góp phần làm cho đất nước thêm vững mạnh.
Phần THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT (Trang 68)
Bài 1: Xác định kiểu đoạn văn và phân tích tác dụng
Đề: Xác định kiểu đoạn văn của những trường hợp sau. Phân tích tác dụng của từng cách thức tổ chức đoạn văn.
a. Đoạn trích Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn): "Nay ta chọn binh pháp các nhà hợp làm một quyển gọi là 'Binh thư yếu lược'. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo của ta, thì mới phải đạo thần chủ; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, tức là kẻ nghịch thù."
Trả lời:
- Kiểu đoạn: đoạn văn phối hợp.
- Phân tích: Câu đầu nêu việc Trần Quốc Tuấn soạn sách Binh thư yếu lược (ý khái quát mở đầu). Câu sau đặt ra hai khả năng đối lập: chuyên tập sách → là thần chủ; khinh bỏ sách → là nghịch thù (câu kết khẳng định, có tính chốt lại). Cách tổ chức này vừa nêu vấn đề vừa khép lại bằng lời cảnh tỉnh dứt khoát, tăng sức răn dạy và thuyết phục đối với tướng sĩ.
b. Đoạn trích Tinh thần yêu nước của nhân dân ta (Hồ Chí Minh): "Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước. Từ các cụ già tóc bạc đến các cháu nhi đồng trẻ thơ... cho đến những đồng bào điền chủ quyên đất ruộng cho Chính phủ,... Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước."
Trả lời:
- Kiểu đoạn: đoạn văn phối hợp.
- Phân tích: Câu mở đầu nêu ý khái quát ("Đồng bào ta ngày nay cũng rất xứng đáng với tổ tiên ta ngày trước"). Các câu giữa liệt kê hàng loạt dẫn chứng về mọi tầng lớp nhân dân để chứng minh. Câu cuối khái quát lại, khẳng định điểm chung là "lòng nồng nàn yêu nước". Cách tổ chức đầu – cuối tương ứng làm cho lập luận chặt chẽ, dẫn chứng vừa phong phú vừa được khái quát thành một nhận định sâu sắc, giàu sức thuyết phục.
Bài 2: Xác định kiểu tổ chức và chủ đề đoạn văn
Đề: Đoạn văn sau được tổ chức theo kiểu nào? Chủ đề của đoạn văn là gì? Dựa vào đâu em nhận biết được điều đó?
(Đoạn văn cần phân tích nằm ở trang tiếp theo, nhưng dựa vào hai ngữ liệu mẫu in trong khung bên phải, mình hướng dẫn cách phân tích như sau.)
Phân tích hai ngữ liệu mẫu trong khung:
Ngữ liệu 1 – Trích Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế giới về trẻ em:
- Kiểu tổ chức: đoạn văn song song.
- Chủ đề: trách nhiệm đối với trẻ em.
- Dấu hiệu nhận biết: đoạn có ba câu, mỗi câu nêu một điều cần làm để đáp ứng quyền lợi của trẻ em. Không có câu chủ đề rõ rệt nhưng tất cả các câu cùng hướng về một chủ đề chung → đó là đặc điểm của đoạn văn song song.
Ngữ liệu 2 – Tiếng cười không muốn nghe (Minh Đăng):
- Kiểu tổ chức: đoạn văn phối hợp.
- Chủ đề: phản ứng khác nhau của con người trước tiếng cười nhạo và tác hại của nó.
- Dấu hiệu nhận biết: câu đầu nêu ý khái quát ("Bị cười, không phải mọi người đều phản ứng giống nhau"); các câu giữa triển khai các kiểu phản ứng cụ thể; câu cuối là câu khẳng định, mở rộng vấn đề ("Như vậy, sự cười nhạo chẳng phải đã vô tình làm hại người ta đó sao?"). Có câu chủ đề ở đầu và câu kết ở cuối → đoạn văn phối hợp.
Lưu ý cho em: phần đầu bài tập 2 yêu cầu phân tích một đoạn văn cụ thể, nhưng đoạn ấy chưa xuất hiện đầy đủ trong ảnh (bị cắt ở cuối trang 68). Nếu em gửi tiếp trang sau, mình sẽ giải trọn vẹn câu 2 nhé.
