Giải Ngữ Văn 8 - Tập 1 trang 71
Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 71–72
Tóm tắt lý thuyết: Đoạn văn song song và đoạn văn phối hợp
Phần khung màu vàng nhắc lại kiến thức về hai kiểu đoạn văn:
| Kiểu đoạn | Đặc điểm cấu trúc | Tác dụng |
|---|---|---|
| Đoạn văn song song | Không có câu chủ đề, các câu cùng triển khai làm rõ một nội dung chung | Phù hợp trình bày thông tin khách quan, không áp đặt đánh giá; kết luận do người đọc tự rút ra |
| Đoạn văn phối hợp | Cấu trúc tổng hợp – phân tích – tổng hợp; câu đầu và câu cuối đều là câu chủ đề | Phù hợp để khẳng định chắc chắn điều người viết cho là chân lí |
Bài 3: Viết đoạn văn song song và đoạn văn phối hợp
Đề bài: Hãy viết một đoạn văn song song và một đoạn văn phối hợp (mỗi đoạn khoảng 7 – 9 câu) theo chủ đề tự chọn.
Mình gợi ý hai đoạn mẫu để em tham khảo cách triển khai.
Đoạn văn song song (chủ đề: Cảnh sân trường giờ ra chơi):
Tiếng trống báo hiệu giờ ra chơi vừa vang lên. Học sinh từ các lớp ùa ra sân như đàn ong vỡ tổ. Góc sân bên trái, mấy bạn nam đang say sưa đá cầu. Phía gốc bàng, các bạn nữ túm tụm chơi nhảy dây. Dưới hàng ghế đá, vài bạn ngồi đọc truyện, trò chuyện rôm rả. Trên cao, những tán lá bàng xanh mát che bóng cho cả khoảng sân. Tiếng cười nói rộn ràng hòa cùng tiếng ve râm ran đầu hè.
Nhận xét: Các câu cùng nhau miêu tả những hình ảnh khác nhau của sân trường, không có câu nào giữ vai trò chủ đề, nhưng nội dung vẫn thống nhất ở cảnh giờ ra chơi.
Đoạn văn phối hợp (chủ đề: Đọc sách rất có ích):
Đọc sách mang lại cho con người vô vàn lợi ích. Trước hết, sách là kho tri thức khổng lồ của nhân loại, giúp ta mở rộng hiểu biết về mọi lĩnh vực. Mỗi cuốn sách hay còn nuôi dưỡng tâm hồn, bồi đắp tình cảm và cảm xúc đẹp. Đọc sách thường xuyên giúp ta trau dồi vốn từ, rèn luyện cách diễn đạt trong sáng. Hơn nữa, những trang sách còn dạy ta bài học làm người, cách ứng xử nhân văn. Nhờ đọc sách, con người trưởng thành hơn trong suy nghĩ và hành động. Có thể nói, đọc sách là con đường ngắn nhất dẫn tới thành công và hoàn thiện bản thân.
Nhận xét: Câu đầu nêu chủ đề (đọc sách có ích), các câu giữa phân tích từng lợi ích, câu cuối khái quát và khẳng định lại – đúng cấu trúc tổng – phân – hợp.
Văn bản 3: Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam)
Đây là phần đọc văn bản, không phải bài tập. Mình tóm tắt phần thông tin quan trọng:
Phiên âm và dịch:
- Bản dịch thơ:
> Sông núi nước Nam, vua Nam ngự,
> Rành rành định phận ở sách trời.
> Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
> Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Thông tin về tác giả, hoàn cảnh (mục SAU KHI ĐỌC):
- Bài thơ hiện chưa rõ tác giả, nhiều tài liệu cho là của Lý Thường Kiệt.
- Theo Lĩnh Nam chích quái: bài thơ được một vị thần ngâm đọc, giúp vua Lê Đại Hành đánh bại quân Tống năm 981.
- Theo Đại Việt sử kí toàn thư: năm 1076, Lý Thường Kiệt chặn đánh quân Tống bên sông Như Nguyệt, bài thơ vang lên trong đền thờ thần sông Trương tướng quân.
- Bài thơ vốn không có nhan đề. Tên Nam quốc sơn hà do người biên soạn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (1976) đặt, lấy từ bốn chữ đầu bài thơ.
Trả lời câu hỏi (phần TRẢ LỜI CÂU HỎI)
Câu 1
Đề: Bài thơ được coi là bản "tuyên ngôn độc lập" đầu tiên của đất nước ta. Em hiểu thế nào là bản "tuyên ngôn độc lập"?
Trả lời: Bản "tuyên ngôn độc lập" là lời tuyên bố trang trọng, chính thức về chủ quyền độc lập, tự chủ của một quốc gia, dân tộc. Nó khẳng định đất nước có lãnh thổ riêng, có người đứng đầu (vua) cai quản, không lệ thuộc vào bất kì thế lực ngoại bang nào; đồng thời cảnh báo, kiên quyết chống lại mọi kẻ xâm phạm. Nam quốc sơn hà được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên vì đã khẳng định rõ chủ quyền nước Nam và ý chí bảo vệ chủ quyền ấy.
Câu 2
Đề: Từ "cư" trong nguyên tác có thể dịch là "ngự" (cai quản), cũng có thể dịch là "ở" (cư trú). Theo em, cách dịch nào thể hiện được rõ tinh thần của một bản "tuyên ngôn độc lập" hơn? Hãy lí giải ý kiến của em.
Trả lời: Cách dịch "ngự" (cai quản) thể hiện rõ tinh thần tuyên ngôn độc lập hơn.
Lí giải:
- "Ở" (cư trú) chỉ cho biết vua Nam sinh sống trên đất Nam – đây mới là quyền sống bình thường, chưa nói được quyền làm chủ.
- "Ngự" (cai quản) khẳng định vua Nam là người đứng đầu, nắm quyền cai trị đất nước, tức là người chủ thật sự của giang sơn.
- Một bản tuyên ngôn độc lập cần khẳng định quyền làm chủ, quyền tự quyết của dân tộc, nên từ "ngự" mạnh mẽ và phù hợp hơn, thể hiện được khí phách và ý thức tự chủ.
Câu 3
Đề: Để khẳng định chủ quyền của đất nước ta, tác giả đã sử dụng những lí lẽ nào?
Trả lời: Tác giả dùng những lí lẽ vừa thực tế vừa thiêng liêng:
- Lí lẽ về lãnh thổ và người làm chủ: "Sông núi nước Nam vua Nam ở" – nước Nam có bờ cõi riêng, có vua riêng cai quản, là một quốc gia độc lập.
- Lí lẽ về sự phân định của trời đất (chân lí thiêng liêng): "Rành rành định phận ở sách trời" – ranh giới ấy đã được ghi rõ trong "sách trời", mang tính chân lí, hợp với lẽ tự nhiên, không ai có thể chối cãi.
Hai lí lẽ này kết hợp khiến lời khẳng định chủ quyền vừa có cơ sở thực tế, vừa có sức nặng thiêng liêng.
Câu 4
Đề: Theo em, câu thơ cuối cảnh báo điều gì đối với quân xâm lược? Do đâu em khẳng định như vậy?
Trả lời: Câu thơ cuối ("Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời" / "Các ngươi sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong") là lời cảnh báo đanh thép: quân xâm lược nhất định sẽ thất bại thảm hại nếu dám sang xâm phạm bờ cõi nước Nam.
Em khẳng định như vậy vì:
- Hành động xâm lược là trái với "sách trời", đi ngược lẽ phải và chính nghĩa, nên tất yếu phải chuốc lấy thất bại.
- Câu thơ thể hiện niềm tin, ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta.
- Thực tế lịch sử đã chứng minh: quân Tống xâm lược đều thảm bại đúng như lời thơ, như chiến thắng trên sông Như Nguyệt năm 1076.
Nếu em cần mình chuyển header chính xác về "Trang 69 – 70" hay vẫn giữ theo yêu cầu, cứ nói nhé.
