Giải Ngữ Văn 8 - Tập 1 trang 93

Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 93–94

Tóm tắt nội dung trang

Hai trang này gồm ba phần:

  • Phần kết của văn bản đọc hiểu Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng (Trần Thị Hoa Lê).
  • Phần Sau khi đọc – Trả lời câu hỏi (5 câu).
  • Mở đầu phần Viết: Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng) kèm yêu cầu và bài viết tham khảo Phân tích bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống.

Phần Viết chỉ là hướng dẫn và bài tham khảo, chưa có bài tập cần làm. Vì vậy cô tập trung giải kĩ 5 câu hỏi trong mục Trả lời câu hỏi.


Bài 1: Đối tượng của văn học trào phúng

Đề: Đối tượng miêu tả, thể hiện của văn học trào phúng là gì? Văn bản đã nêu những đối tượng cụ thể nào mà tiếng cười trào phúng thường nhằm tới?

Trả lời:

  • Đối tượng miêu tả, thể hiện của văn học trào phúng là cái xấu, cái đáng cười, đáng phê phán trong đời sống và con người: những thói hư tật xấu, sự lố bịch, giả dối, lỗi thời, đi ngược với chuẩn mực đạo đức và lẽ phải.
  • Những đối tượng cụ thể mà tiếng cười trào phúng thường nhằm tới:
  • Những kẻ có quyền lực nhưng tha hóa, bất tài, tham lam.
  • Những thói hư tật xấu của con người: thói hám danh, hám lợi, đua đòi, sĩ diện, giả tạo…
  • Những hiện tượng, sự việc trái với lẽ thường, gây bức xúc trong xã hội (như việc lập đền thờ cho một tên tướng giặc bại trận).

Vì sao: Văn học trào phúng dùng tiếng cười làm vũ khí, nên đối tượng của nó luôn là những gì đáng phê phán, cần được phơi bày để mọi người nhận ra và bài trừ.

Bài 2: Các giọng điệu của tiếng cười và dấu hiệu nhận biết

Đề: Văn bản đề cập đến những giọng điệu nào của tiếng cười trong thơ trào phúng? Hãy chỉ rõ dấu hiệu để nhận biết từng giọng điệu.

Trả lời: Văn bản đề cập tới các giọng điệu cơ bản sau:

Giọng điệuDấu hiệu nhận biết
Hài hướcCách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khôi hài, bông đùa; tiếng cười vui vẻ, không gay gắt.
Mỉa mai – châm biếmCách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn trật tự thông thường; tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu.
Đả kíchCách dùng những từ ngữ mang nghĩa phủ định, thô mộc, suồng sã; tiếng cười phủ nhận gay gắt đối tượng, mang sắc thái căm phẫn.

Vì sao: Mỗi giọng điệu gắn với một mức độ và sắc thái phê phán khác nhau, từ nhẹ nhàng (hài hước) đến gay gắt (đả kích), nên dấu hiệu ngôn từ và cách tạo tiếng cười cũng khác nhau.

Bài 3: Giọng điệu em yêu thích

Đề: Trong các giọng điệu của tiếng cười ở thơ trào phúng mà văn bản đề cập, em cảm thấy thích thú với giọng điệu nào? Vì sao?

Trả lời (đây là câu nêu cảm nhận cá nhân, cô gợi ý một hướng trả lời):

Em thích thú nhất với giọng điệu mỉa mai – châm biếm. Lí do:

  • Giọng điệu này không quá nhẹ như hài hước, cũng không gay gắt như đả kích, mà vừa thâm thúy vừa sâu cay.
  • Nó đòi hỏi tác giả phải khéo léo tạo ra những tình huống vô lí, đảo lộn để người đọc tự nhận ra cái đáng cười, nên tiếng cười vừa thông minh vừa thấm thía.
  • Tiếng cười châm biếm có sức "thanh lọc", giúp con người nhận ra và sửa chữa thói xấu một cách nhẹ nhàng mà hiệu quả.

Lưu ý: Em hoàn toàn có thể chọn giọng điệu khác (hài hước hoặc đả kích), miễn là nêu được lí do hợp lí gắn với cảm nhận thật của bản thân.

Bài 4: Cách hiểu về nhận định cuối văn bản

Đề: Trình bày cách hiểu của em về nhận định: "Tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn".

Trả lời:

Nhận định này khẳng định hai điều:

  1. Tiếng cười phong phú, đa sắc màu như chính cuộc sống:
  • Cuộc sống muôn hình vạn trạng nên tiếng cười cũng đa dạng về sắc thái: lúc hài hước vui tươi, lúc mỉa mai sâu cay, lúc đả kích gay gắt.
  • Mỗi giọng điệu phản ánh một góc nhìn, một thái độ trước cái xấu trong đời.
  1. Tiếng cười cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng con người đến giá trị cao đẹp:
  • Tiếng cười trào phúng không chỉ để mua vui, mà là vũ khí phê phán: phơi bày, chế giễu cái xấu, cái lố bịch, giả dối.
  • Khi cái xấu bị cười nhạo, nó mất đi sự "nghiêm trang" giả tạo, từ đó bị đẩy lùi.
  • Qua tiếng cười, con người nhận ra điều sai trái và tự hoàn thiện mình, hướng tới cái thiện, cái đẹp.

Vì sao hiểu như vậy: Toàn bộ văn bản đã chứng minh sự đa dạng của tiếng cười qua nhiều giọng điệu và dẫn chứng, đồng thời nhấn mạnh chức năng giáo dục, thanh lọc của văn học trào phúng. Câu kết chính là sự đúc kết hai ý đó.

Bài 5: Giọng điệu trào phúng trong "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" và "Lai Tân"

Đề: Vận dụng tri thức từ văn bản "Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng", em hãy cho biết: Hai bài thơ "Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu" và "Lai Tân" sử dụng những giọng điệu nào của tiếng cười trào phúng?

Trả lời:

*Bài Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương):*

  • Sử dụng chủ yếu giọng mỉa mai – châm biếm kết hợp đả kích.
  • Dấu hiệu: cảnh trường thi nhốn nháo, lộn xộn, đảo lộn trật tự ("Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ / Ậm oẹ quan trường miệng thét loa"); hình ảnh "ông Tây", "mụ đầm" được đặt ngang hàng, thậm chí cao hơn cảnh khoa cử trang nghiêm, tạo sự vô lí, lố bịch.
  • Qua đó, tác giả châm biếm chế độ thi cử buổi giao thời nhố nhăng và bộc lộ nỗi đau, sự căm phẫn trước cảnh nước mất.

*Bài Lai Tân (Hồ Chí Minh):*

  • Sử dụng giọng mỉa mai – châm biếm sắc bén, thâm thúy.
  • Dấu hiệu: ba câu đầu kể việc ban trưởng, cảnh trưởng, huyện trưởng đều làm những việc trái với chức trách (đánh bạc, ăn tiền, chong đèn hút thuốc phiện) bằng giọng tỉnh táo, khách quan; câu kết bất ngờ "Trời đất Lai Tân vẫn thái bình" – sự đảo lộn, nghịch lí tạo nên tiếng cười mỉa mai sâu cay, phơi bày bộ máy cai trị thối nát.

Vì sao: Cả hai bài đều tạo tiếng cười bằng cách dựng lên những tình huống vô lí, đảo lộn trật tự bình thường (đặc trưng của giọng mỉa mai – châm biếm), riêng Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu còn có sắc thái phủ nhận gay gắt nên mang thêm chất đả kích.


Nếu em cần cô giải tiếp phần Viết (dàn ý chi tiết bài văn phân tích một bài thơ trào phúng) hoặc gửi đúng ảnh trang 93–94, cứ nói cô nhé.

Chế độ đọc sách →