Giải Ngữ Văn 8 - Tập 1 trang 99

Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 99–100

Hai trang này nằm ở cuối bài học về thơ trào phúng (Bài 4), gồm phần cuối của hoạt động Nói và nghe, mục Củng cố, mở rộng và phần Thực hành đọc với bài thơ Vịnh cây vông.

Tóm tắt lý thuyết

Phần Củng cố, mở rộng yêu cầu em hệ thống lại kiến thức về hai văn bản đã học:

  • Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương)
  • Lai Tân (Hồ Chí Minh)

Trọng tâm cần nắm:

  • Thể thơ và bố cục thơ Đường luật (thất ngôn bát cú: đề – thực – luận – kết; thất ngôn tứ tuyệt: khai – thừa – chuyển – hợp).
  • Đối tượng và nội dung bị châm biếm, đả kích.
  • Các sắc thái giọng điệu trào phúng: hài hước, mỉa mai – châm biếm, đả kích.

Bài 1: Bảng thể thơ – bố cục – câu thơ tương ứng

Đề bài: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các nội dung phù hợp (Văn bản / Thể thơ / Các phần trong bố cục bài thơ / Câu thơ tương ứng).

Lời giải:

Văn bảnThể thơCác phần trong bố cụcCâu thơ tương ứng
Lễ xướng danh khoa Đinh DậuThất ngôn bát cú Đường luậtĐềCâu 1 – 2 (giới thiệu khoa thi năm Đinh Dậu)
ThựcCâu 3 – 4 (cảnh sĩ tử, quan trường nhốn nháo)
LuậnCâu 5 – 6 (hình ảnh quan sứ, mụ đầm)
KếtCâu 7 – 8 (lời nhắn nhủ, kêu gọi sĩ tử)
Lai TânThất ngôn tứ tuyệt Đường luậtKhaiCâu 1 (ban trưởng nhà lao đánh bạc)
ThừaCâu 2 (cảnh trưởng ăn tiền của phạm nhân)
ChuyểnCâu 3 (huyện trưởng "chong đèn làm việc")
HợpCâu 4 (lời mỉa mai: trời đất Lai Tân vẫn thái bình)

Vì sao điền như vậy: Bài bát cú gồm 8 câu, chia 4 phần mỗi phần 2 câu theo trình tự đề – thực – luận – kết. Bài tứ tuyệt chỉ 4 câu nên mỗi câu là một phần theo trình tự khai – thừa – chuyển – hợp.


Bài 2: Bảng đối tượng và những cái xấu bị châm biếm, đả kích

Đề bài: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các thông tin phù hợp (Văn bản / Đối tượng bị châm biếm, đả kích / Những cái xấu bị châm biếm, đả kích).

Lời giải:

Văn bảnĐối tượng bị châm biếm, đả kíchNhững cái xấu bị châm biếm, đả kích
Lễ xướng danh khoa Đinh DậuSĩ tử, quan trường và bọn thực dân (quan sứ, mụ đầm)Cảnh trường thi lộn xộn, nhốn nháo; sự sa sút của Nho học; sự lố lăng, kệch cỡm của bọn thực dân khi xuất hiện ở chốn khoa cử; nỗi nhục mất nước
Lai TânBộ máy quan lại nhà tù Tưởng Giới Thạch: ban trưởng, cảnh trưởng, huyện trưởngĐánh bạc; ăn chặn, vơ vét tiền của tù nhân; làm việc tắc trách, hút thuốc phiện; cả bộ máy thối nát mà vẫn được che đậy bằng vẻ "thái bình" giả tạo

Giải thích: Tiếng cười trào phúng trong hai bài đều hướng vào những cái xấu của xã hội. Ở Trần Tế Xương là sự nhố nhăng của khoa thi buổi giao thời; ở Hồ Chí Minh là sự mục ruỗng của chính quyền nhà tù.


Bài 3: Bảng giọng điệu trào phúng

Đề bài: Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các thông tin tương ứng (Giọng điệu trào phúng / Đặc điểm của giọng điệu / Ví dụ minh hoạ).

Lời giải:

Giọng điệu trào phúngĐặc điểm của giọng điệuVí dụ minh hoạ (tên bài thơ, tác giả)
Hài hướcĐùa vui nhẹ nhàng, dí dỏm, tạo tiếng cười vui vẻ, thiện chíTự trào, Nguyễn Khuyến
Mỉa mai – châm biếmTạo ra yếu tố vô lí, ngược đời để bóc trần bản chất giả dối, nực cười của đối tượngLai Tân, Hồ Chí Minh
Đả kíchDùng từ ngữ mạnh, thái độ phê phán quyết liệt để lên án, vạch trần cái xấuLễ xướng danh khoa Đinh Dậu, Trần Tế Xương

Lưu ý: Phần ví dụ có thể linh hoạt thay bằng các bài khác mà em đã đọc, miễn đúng sắc thái giọng điệu.


Bài 4: Suy nghĩ về ý kiến về tiếng cười trào phúng

Đề bài: "Tiếng cười trào phúng nhằm giễu cợt, mỉa mai, châm biếm, đả kích những cái chưa hay, chưa đẹp hoặc cái tiêu cực, xấu xa nhưng mục đích cao nhất của nó là hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn." Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

Gợi ý bài làm:

Em hoàn toàn đồng tình với ý kiến trên. Tiếng cười trào phúng không phải để hạ thấp hay bôi nhọ con người, mà mang ý nghĩa tích cực, nhân văn.

Có thể triển khai theo các ý:

  • Tiếng cười trào phúng là vũ khí phê phán: nó phơi bày cái xấu, cái lố bịch, cái tiêu cực để mọi người nhận ra và tránh xa. Ví dụ, qua Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu, Tú Xương khiến ta thấy rõ sự nhố nhăng của khoa cử buổi giao thời và nỗi nhục mất nước.
  • Mục đích cuối cùng là hướng thiện: chê cái xấu để con người sửa mình, để xã hội tốt lên. Như Lai Tân, Bác mỉa mai bộ máy quan lại thối nát chính là để thức tỉnh, đòi hỏi một xã hội công bằng.
  • Vì thế, tiếng cười trào phúng vừa sắc bén vừa nhân ái: phê phán nhưng không thù hằn, luôn đặt niềm tin vào cái tốt, cái đẹp.

Kết luận: Tiếng cười trào phúng là một cách thể hiện trách nhiệm với cuộc sống, nhắc nhở mỗi người sống tốt đẹp và lành mạnh hơn.


Thực hành đọc: Vịnh cây vông (Nguyễn Công Trứ)

Đây là văn bản đọc mở rộng, em tự thực hành. Khi đọc cần chú ý 3 điểm sách nêu:

  • Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
  • Đối tượng của tiếng cười trào phúng.
  • Nghệ thuật ẩn dụ (mượn hình tượng cây vông để châm biếm, đả kích).

Định hướng đọc hiểu:

Nội dung bài thơ:

Biền, nam, khởi, tử, chẳng vun trồng, Cao lớn làm chi những thứ vông. Tuổi tác càng già, càng xốp xáp, Ruột gan không có, có gai chông. Ra tài lương đống không nên mặt, Dựa chốn phiên li chút đỡ lòng. Đã biết nòi nào thời giống nấy, Khen cho rứa cũng trổ ra bông.

Phân tích định hướng:

  • Đối tượng trào phúng: cây vông là hình ảnh ẩn dụ cho loại người bất tài, vô dụng nhưng lại có địa vị, chức tước cao trong xã hội.
  • Nghệ thuật ẩn dụ: tác giả tả những đặc điểm của cây vông (cao lớn nhưng gỗ xốp, ruột rỗng, chỉ có gai, không làm được rường cột) để ám chỉ kẻ "to xác" mà rỗng tuếch, không có thực tài, chỉ làm được việc nhỏ là làm bờ rào.
  • Câu kết "Đã biết nòi nào thời giống nấy / Khen cho rứa cũng trổ ra bông" là lời mỉa mai sâu cay: hạng người ấy thì cũng chỉ "trổ ra bông" cho có, chứ chẳng nên trò trống gì.

Giọng điệu: mỉa mai, châm biếm pha đả kích, thể hiện thái độ coi thường của tác giả với hạng người bất tài mà ham danh vị.

Tóm lại, hai trang này giúp em hệ thống lại toàn bộ kiến thức về thơ trào phúng và rèn thêm kĩ năng đọc hiểu qua một bài thơ mới.

Chế độ đọc sách →