Giải Ngữ Văn 8 - Tập 1 trang 127
Lời giải chi tiết SGK Lớp 8 · Môn Ngữ Văn · Trang 127–128
Mình thấy ảnh thực tế là trang 125 và 126 (không phải 127–128 như đề bài ghi), nên mình dùng đúng số trang trong ảnh nhé. Đây là phần Luyện tập tổng hợp – Phiếu học tập số 1, đọc hiểu bài thơ Chiều hôm nhớ nhà của Bà Huyện Thanh Quan.
Tóm tắt nội dung phần Đọc
Bài thơ Chiều hôm nhớ nhà là một bài thơ trữ tình tiêu biểu cho phong cách Bà Huyện Thanh Quan: trang nhã, cổ kính, đượm buồn. Bài thơ miêu tả cảnh chiều tà nơi đất khách, qua đó gửi gắm nỗi cô đơn, nhớ nhà, nhớ quê của người lữ khách. Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ), tuân thủ luật bằng trắc, gieo vần, đối và bố cục đề – thực – luận – kết.
Phần I: Chọn phương án đúng
Câu 1
Đề: Nhận định nào sau đây đúng với bài thơ Chiều hôm nhớ nhà?
Đáp án: A. Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Giải thích: Bài thơ có 8 câu (bát cú), mỗi câu 7 tiếng (thất ngôn). Đếm thử: "Trời / chiều / bảng / lảng / bóng / hoàng / hôn" = 7 tiếng, và toàn bài có đúng 8 dòng. Vậy đây là thể thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2
Đề: Yếu tố nào sau đây không có tác dụng giúp ta nhận biết thể thơ của Chiều hôm nhớ nhà?
Đáp án: C. Biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ.
Giải thích: Để nhận biết thể thơ Đường luật, ta dựa vào số tiếng mỗi câu, số câu (D), cách gieo vần và ngắt nhịp (A), tính chất đối của các cặp câu (B). Riêng biện pháp tu từ chỉ là phương tiện nghệ thuật, bài thơ thể nào cũng có thể dùng nên không giúp xác định thể thơ.
Câu 3
Đề: Nghệ thuật đối được thể hiện ở những cặp câu thơ nào?
Đáp án: C. Cặp câu 3 – 4 và 5 – 6.
Giải thích: Trong thơ thất ngôn bát cú Đường luật, phép đối bắt buộc nằm ở hai câu thực (3–4) và hai câu luận (5–6).
- Câu 3–4: "Gác mái ngư ông về viễn phố / Gõ sừng mục tử lại cô thôn" (đối: ngư ông – mục tử, viễn phố – cô thôn).
- Câu 5–6: "Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi / Dặm liễu sương sa khách bước dồn" (đối: ngàn mai – dặm liễu, chim bay mỏi – khách bước dồn).
Câu 4
Đề: Những câu nào trong bài thơ có tiếng hiệp vần?
Đáp án: B. Các câu 1 – 2 – 4 – 6 – 8.
Giải thích: Thơ Đường luật gieo vần ở chữ cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8. Ở đây vần "ôn/on": hôn (1) – đồn (2) – thôn (4) – dồn (6) – ôn (8).
Câu 5
Đề: Biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng ở hai câu thơ:
"Gác mái ngư ông về viễn phố, / Gõ sừng mục tử lại cô thôn."
Đáp án: C. Biện pháp tu từ đảo ngữ.
Giải thích: Trật tự thông thường là "Ngư ông gác mái về viễn phố, mục tử gõ sừng lại cô thôn". Tác giả đảo động từ "gác mái", "gõ sừng" lên đầu câu để nhấn mạnh hành động và tạo âm hưởng cổ kính, trang trọng.
Câu 6
Đề: Trong bài thơ, cảnh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt của con người có mối liên hệ như thế nào?
Đáp án: B. Cảnh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt hòa điệu với nhau, cùng thể hiện nỗi niềm của nhà thơ.
Giải thích: Cảnh chiều tà (bóng hoàng hôn, tiếng ốc, gió cuốn, sương sa) và hình ảnh con người (ngư ông về phố, mục tử về thôn, khách bước dồn) đều nhuốm màu chia ly, trở về, gợi nỗi cô đơn, nhớ nhà của tác giả. Hai bức tranh quyện vào nhau làm một, cùng tô đậm tâm trạng buồn nhớ.
Phần II: Trả lời câu hỏi
Câu 1
Đề: Dựa vào đâu để có thể khẳng định Chiều hôm nhớ nhà là một bài thơ trữ tình?
Trả lời: Có thể khẳng định vì:
- Bài thơ tập trung bộc lộ cảm xúc, tâm trạng của chủ thể trữ tình (người lữ khách) chứ không kể một câu chuyện hay sự việc.
- Mọi hình ảnh thiên nhiên, con người đều được nhìn qua lăng kính tâm trạng, thấm đẫm nỗi buồn, nỗi nhớ nhà.
- Hai câu kết trực tiếp giãi bày nỗi lòng: "Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ / Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn" – đó chính là tiếng nói tình cảm đặc trưng của thơ trữ tình.
Câu 2
Đề: Những hình ảnh nào trong bài thơ có tác dụng làm nổi bật nhan đề Chiều hôm nhớ nhà?
Trả lời:
- Hình ảnh gợi thời điểm "chiều hôm": "bóng hoàng hôn", "tiếng ốc xa đưa", "gió cuốn chim bay mỏi", "sương sa" – đều là cảnh chiều tàn, lúc dễ gợi nỗi buồn xa quê.
- Hình ảnh gợi nỗi "nhớ nhà": ngư ông "về viễn phố", mục tử "lại cô thôn" (mọi vật đều trở về tổ ấm), trong khi người lữ khách vẫn lẻ loi nơi đất khách; cụm "Chương Đài", "lữ thứ", "nỗi hàn ôn" trực tiếp nói về nỗi nhớ quê, nhớ nhà.
Câu 3
Đề: Em cảm nhận như thế nào về phong cảnh thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt của con người được khắc họa trong bài thơ?
Trả lời: Phong cảnh thiên nhiên hiện lên trong khoảnh khắc hoàng hôn rộng lớn, tĩnh lặng nhưng đượm buồn, mang vẻ đẹp cổ điển, trang nhã. Bức tranh sinh hoạt của con người bình dị, thân quen (người đánh cá, trẻ chăn trâu trở về) nhưng thưa thớt, gợi cảm giác cô liêu. Cảnh và người hòa quyện, tạo nên một không gian chiều quê vừa nên thơ vừa man mác buồn, phù hợp với tâm trạng nhớ nhà của tác giả.
Câu 4
Đề: Tâm trạng của tác giả thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Trả lời: Tác giả mang tâm trạng cô đơn, buồn nhớ da diết. Đứng giữa cảnh chiều tà nơi đất khách, nhìn vạn vật đều tìm về nơi chốn của mình, nhà thơ càng thấm thía nỗi lẻ loi của kẻ tha hương. Nỗi nhớ nhà, nhớ quê dâng lên thành nỗi niềm không biết tỏ cùng ai: "Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn". Đó là tâm trạng hoài hương, sầu muộn rất đặc trưng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan.
Câu 5
Đề: Đọc các chú thích trong văn bản, em có nhận xét gì về cách dùng từ ngữ của tác giả?
Trả lời: Tác giả dùng nhiều từ Hán Việt và điển cố (ngư ông, mục tử, viễn phố, cô thôn, Chương Đài, lữ thứ, hàn ôn). Cách dùng từ này tạo nên sắc thái trang trọng, cổ kính, tao nhã, gợi không khí buồn man mác và làm tăng tính hàm súc, giàu sức gợi cho bài thơ. Đây là nét phong cách rất tiêu biểu của Bà Huyện Thanh Quan.
Tóm lại, đáp án trắc nghiệm là: 1‑A, 2‑C, 3‑C, 4‑B, 5‑C, 6‑B. Em lưu ý ảnh thực chất là trang 125–126 nha, nếu cần mình giải đúng trang 127–128 thì gửi lại ảnh hai trang đó giúp mình.
