Giải Khoa học tự nhiên 9 trang 189

Lời giải chi tiết SGK Lớp 9 · Môn Khoa Học Tá»± NhiĂªn · Trang 189–190

Tóm tắt lý thuyết

Nguyên phân

  • Mỗi lần nguyên phân: từ 1 tế bào mẹ tạo ra 2 tế bào con giống nhau và giống tế bào mẹ.
  • Ý nghĩa: giúp cơ thể đa bào sinh trưởng, phát triển, thay thế tế bào già/chết; duy trì bộ NST đặc trưng qua các thế hệ tế bào; là hình thức sinh sản của sinh vật đơn bào nhân thực và loài sinh sản vô tính.

Giảm phân

  • Xảy ra ở tế bào sinh dục giai đoạn chín.
  • Gồm 2 lần phân chia liên tiếp (giảm phân I và II) nhưng NST chỉ nhân đôi 1 lần trước giảm phân I.
  • Kết quả: từ 1 tế bào mẹ (2n) tạo ra 4 tế bào con (n).
  • Ý nghĩa: tạo giao tử đơn bội; kết hợp với thụ tinh khôi phục bộ NST lưỡng bội (2n) ở loài; tạo nhiều tổ hợp NST khác nhau → biến dị tổ hợp phong phú.

Câu hỏi 1 (trang 187): Ví dụ về nguyên phân

Đề: Nêu thêm ví dụ về nguyên phân mà em biết.

Gợi ý trả lời:

  • Vết thương ngoài da liền lại do các tế bào da nguyên phân tạo tế bào mới.
  • Móng tay, móng chân, tóc dài ra nhờ nguyên phân của các tế bào ở gốc.
  • Cây bị cắt cành, giâm cành mọc rễ và chồi mới.
  • Hợp tử ở người sau khi thụ tinh nguyên phân liên tiếp tạo phôi rồi thành cơ thể hoàn chỉnh.

Câu hỏi 2 (trang 187): Quan sát Hình 43.2 – Giảm phân

  1. Từ một tế bào mẹ, qua giảm phân tạo ra bao nhiêu tế bào con?

→ Tạo ra 4 tế bào con. Vì giảm phân gồm 2 lần phân chia liên tiếp: giảm phân I cho 2 tế bào, giảm phân II tiếp tục cho 4 tế bào.

  1. So sánh bộ NST ở các tế bào con với bộ NST ở tế bào mẹ.
Tiêu chíTế bào mẹTế bào con
Số lượng NST2n (lưỡng bội)n (đơn bội)
So sánhGiảm đi một nửa so với tế bào mẹ

→ Tế bào con có bộ NST giảm đi một nửa (n) so với tế bào mẹ (2n).

  1. Giảm phân là gì?

→ Giảm phân là quá trình phân bào diễn ra ở tế bào sinh dục giai đoạn chín, gồm hai lần phân chia liên tiếp nhưng NST chỉ nhân đôi một lần, kết quả tạo ra các tế bào con (giao tử) có số lượng NST giảm đi một nửa so với tế bào mẹ.


Câu hỏi 3 (trang 188): Ví dụ về giảm phân

Đề: Nêu thêm ví dụ về giảm phân mà em biết.

Gợi ý trả lời:

  • Ở người: tế bào sinh trứng (2n) trong buồng trứng giảm phân tạo trứng (n).
  • Ở động vật: tế bào sinh tinh ở tinh hoàn giảm phân tạo tinh trùng (n).
  • Ở thực vật có hoa: tế bào mẹ hạt phấn giảm phân tạo các tiểu bào tử → hạt phấn (giao tử đực n).
  • Ở cá, ếch, gà,... quá trình tạo trứng và tinh trùng đều qua giảm phân.

Câu hỏi 4 (trang 188): Quan sát Hình 43.3 – Phép lai hai cặp gene ở đậu Hà Lan

Tóm tắt phép lai:

  • Quy ước: A – thân cao, a – thân thấp; B – hoa tím, b – hoa trắng. Hai cặp gene nằm trên hai cặp NST tương đồng.
  • P: Thân cao, hoa tím (AaBb) × Thân cao, hoa trắng (Aabb).
  1. Thế hệ F₁ có bao nhiêu loại kiểu gene và kiểu hình mới được tạo thành do tổ hợp lại các allele của bố mẹ?

Phân tích:

  • Bố (♂) AaBb cho 4 loại giao tử: AB, Ab, aB, ab.
  • Mẹ (♀) Aabb cho 2 loại giao tử: Ab, ab.
  • Số tổ hợp F₁: 4 × 2 = 8 tổ hợp.

Các kiểu hình ở F₁ (theo sơ đồ Hình 43.3):

  • Thân cao, hoa tím
  • Thân cao, hoa trắng
  • Thân thấp, hoa tím
  • Thân thấp, hoa trắng

→ F₁ có 4 loại kiểu hình.
→ Trong đó, kiểu hình mới (khác bố mẹ) gồm 2 loại: thân thấp, hoa tím và thân thấp, hoa trắng (bố mẹ đều thân cao). Còn về kiểu gene, F₁ xuất hiện nhiều tổ hợp gene mới so với bố mẹ nhờ sự tổ hợp lại các allele.

  1. Những quá trình nào đã làm xuất hiện các biến dị tổ hợp ở phép lai này? Giải thích.

→ Hai quá trình: giảm phân và thụ tinh.

  • Trong giảm phân, các cặp NST (mang các cặp gene) phân li độc lập và tổ hợp tự do, tạo ra nhiều loại giao tử mang tổ hợp allele khác nhau (bố cho 4 loại giao tử, mẹ cho 2 loại).
  • Trong thụ tinh, các giao tử đực và cái kết hợp ngẫu nhiên, tạo ra nhiều tổ hợp NST (tổ hợp gene) mới ở hợp tử.

Chính sự phối hợp của hai quá trình này làm xuất hiện những tổ hợp gene và kiểu hình khác bố mẹ, gọi là biến dị tổ hợp.


Tóm lại, hai trang này tập trung vào ý nghĩa của nguyên phân, khái niệm và ý nghĩa của giảm phân, cùng cơ chế tạo biến dị tổ hợp qua phép lai hai cặp tính trạng. Nếu bạn cần mình vẽ lại sơ đồ giao tử hoặc lập bảng tổ hợp F₁ chi tiết hơn, cứ nói nhé.

Chế độ đọc sách →