Giải Ngữ Văn 9 - Tập 2 trang 101
Lời giải chi tiết SGK Lớp 9 · Môn Ngữ Văn · Trang 101–102
Tóm tắt nội dung văn bản
Phần văn bản trên hai trang này là đoạn cuối bài "Văn hoá hoa – cây cảnh" (Trần Quốc Vượng). Tác giả điểm lại truyền thống chơi hoa, trồng cây cảnh của người Việt qua các thời Lý – Trần – Lê:
- Thăng Long xưa có 36 phố phường, có "thập tam trại" (13 trại) rau – hoa – quả, nổi tiếng nhất là trại Hàng Hoa, chợ Hoàng Hoa, đất Ngọc Hà.
- Khắp các vùng (xứ Bắc, Thành Nam – quê nhà Trần) đều có dấu tích "vườn Hoa, bến Liễu" gắn với "hào khí Đông A".
- Nhiều làng nghề hoa – cây cảnh cổ truyền (Vị Khê, Trình Xuyên, Phụ Long...) nay được phục hồi, vừa giữ giá trị cổ truyền vừa mang bản sắc kinh doanh thời thị trường.
- Thú chơi hoa cần sự thung dung (ung dung, thư thái) và gắn với tầng lớp trung lưu có mức sống ổn định. Tác giả miêu tả lối kiến trúc nhà thị thành, ngôi nhà trung lưu nho nhã với non bộ, chậu cây cảnh, hàng hiên, "tường hoa"...
- Ngày nay cây cảnh – cây hoa "đưa thiên nhiên vào nhà", lên cả ban công nhà tầng, phòng khách cơ quan.
→ Văn bản khẳđịnh: người Việt có một văn hoá ứng xử riêng, gắn bó, thân thiện với thiên nhiên, thể hiện qua truyền thống chơi hoa – cây cảnh lâu đời.
Phần SAU KHI ĐỌC – Trả lời câu hỏi
Câu 1
Đề: Nêu nhận xét về việc sách giáo khoa đặt văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh bên cạnh văn bản Yên Tử, núi thiêng.
Gợi ý trả lời:
Cách sắp xếp này rất hợp lí và có chủ ý:
- Cả hai văn bản đều là văn bản thông tin viết về những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.
- Yên Tử, núi thiêng nói về một danh thắng, một không gian văn hoá tâm linh; còn Văn hoá hoa – cây cảnh nói về một nét sinh hoạt văn hoá đời thường gắn với thiên nhiên.
- Đặt cạnh nhau, hai văn bản bổ sung cho nhau, cùng làm nổi bật chủ đề: mối quan hệ gắn bó, hài hoà giữa con người Việt Nam với thiên nhiên – từ thiên nhiên hùng vĩ, thiêng liêng đến thiên nhiên gần gũi trong từng nếp nhà.
Câu 2
Đề: Tìm hiểu bố cục của văn bản, qua đó đánh giá cách tác giả triển khai ý tưởng và trình bày thông tin.
Gợi ý trả lời:
Bố cục văn bản có thể chia thành các phần:
| Phần | Nội dung chính |
|---|---|
| Mở đầu | Khẳđịnh người Việt có truyền thống yêu hoa, chơi cây cảnh từ lâu đời |
| Phần giữa | Dẫn chứng theo dòng lịch sử (Lý – Trần – Lê), theo không gian địa lí (Thăng Long, xứ Bắc, Thành Nam...) và các làng nghề cổ truyền |
| Phần sau | Nói về thú chơi hoa gắn với tầng lớp trung lưu, lối kiến trúc nhà ở truyền thống |
| Kết | Hiện tượng "đưa thiên nhiên vào nhà" trong đời sống hiện nay |
Đánh giá: Tác giả triển khai ý tưởng theo trình tự thời gian kết hợp không gian, đi từ quá khứ đến hiện tại, từ rộng (cả nước) đến hẹp (từng nếp nhà). Cách trình bày mạch lạc, dẫn chứng phong phú khiến vấn đề "văn hoá hoa – cây cảnh" hiện lên vừa có chiều sâu lịch sử vừa thiết thực, gần gũi.
Câu 3
Đề: Xác định tính đa dạng của các thông tin được tác giả nêu lên xoay quanh việc làm sáng tỏ vấn đề: Người Việt thực sự có một văn hoá ứng xử riêng với thiên nhiên.
Gợi ý trả lời:
Thông tin trong văn bản rất đa dạng, được huy động từ nhiều nguồn:
- Lịch sử: các triều đại Lý – Trần – Lê, hành cung Thiên Trường, biệt cung Trùng Quang...
- Địa lí: các địa danh Thăng Long, Ngọc Hà, Vị Khê, Trình Xuyên, sông Thiên Đức...
- Văn học – ca dao: "Con gái ở trại Hàng Hoa / Ăn cơm nửa bữa, ngủ nhà nửa đêm..."
- Kiến trúc – đời sống: mô tả ngôi nhà trung lưu, non bộ, tường hoa, các loại cây cảnh.
- Đời sống hiện đại: cây cảnh trên ban công nhà tầng, phòng khách cơ quan.
→ Sự đa dạng này chứng minh thuyết phục rằng người Việt thực sự có một văn hoá ứng xử riêng, lâu đời và bền vững với thiên nhiên.
Câu 4
Đề: Tại sao nói về một vấn đề của văn hoá, tác giả lại hết sức quan tâm tìm hiểu, tập hợp các cứ liệu văn học và ngôn ngữ?
Gợi ý trả lời:
- Văn hoá là sản phẩm tinh thần lâu dài, không phải lúc nào cũng có sử liệu trực tiếp ghi chép. Do đó các cứ liệu văn học (ca dao, thơ) và ngôn ngữ (địa danh, tên gọi) trở thành bằng chứng quý giá phản ánh đời sống văn hoá của một thời.
- Những câu ca dao, những tên đất như "Hoa Nha", "Liễu Nha", "trại Hàng Hoa"... chính là "dấu vết" lưu giữ ký ức văn hoá của cha ông.
- Cách làm này cho thấy tác giả là một nhà nghiên cứu uyên bác, khoa học, biết khai thác nhiều nguồn tư liệu để vấn đề trở nên đáng tin cậy, sinh động và có sức thuyết phục cao.
Câu 5
Đề: Nêu nhận xét của em về mạch liên kết giữa các thông tin trong văn bản.
Gợi ý trả lời:
Mạch liên kết trong văn bản chặt chẽ, tự nhiên:
- Các thông tin được kết nối theo trình tự thời gian (từ thời Lý – Trần – Lê đến nay) và không gian (từ Thăng Long đến các vùng miền).
- Mọi dẫn chứng đều quy về một chủ đề thống nhất: tình yêu thiên nhiên, văn hoá chơi hoa – cây cảnh của người Việt.
- Việc chuyển từ quá khứ sang hiện tại (qua dấu và phần kết) tạo nên dòng chảy liên tục, giúp người đọc thấy được sự tiếp nối truyền thống* trong đời sống hôm nay.
Câu 6
Đề: Việc tác giả huy động kiến thức đa lĩnh vực (văn hoá, văn học, ngôn ngữ, lịch sử, địa lí) khi đưa thông tin về vấn đề đã tạo nên đặc điểm gì của văn bản?
Gợi ý trả lời:
Việc huy động kiến thức đa lĩnh vực tạo nên những đặc điểm nổi bật:
- Văn bản có chiều sâu tri thức, mang tính khoa học, uyên bác.
- Thông tin phong phú, nhiều chiều, soi vấn đề từ nhiều góc độ nên có sức thuyết phục mạnh.
- Văn bản vừa có tính chính xác, khách quan của văn bản thông tin, vừa có chất văn, giàu cảm xúc nhờ những cứ liệu văn học.
- Thể hiện rõ phong cách của một nhà văn hoá học vừa nghiên cứu nghiêm túc vừa yêu mến, trân trọng văn hoá dân tộc.
Phần VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Đề: Từ những điều được văn bản Văn hoá hoa – cây cảnh gợi lên, viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) nêu ấn tượng, suy nghĩ của em về hiện tượng "đưa thiên nhiên vào nhà" rất phổ biến trong đời sống hiện nay.
Đoạn văn tham khảo:
Đọc văn bản "Văn hoá hoa – cây cảnh", em thấy thú chơi cây, chơi hoa của người Việt đã có từ rất lâu đời và vẫn tiếp nối đến hôm nay. Trong nhịp sống hiện đại, hiện tượng "đưa thiên nhiên vào nhà" ngày càng phổ biến: từ chậu cây nhỏ trên bàn làm việc, giàn hoa nơi ban công đến những góc vườn xanh trong phòng khách. Em rất ấn tượng với cách con người dù sống giữa phố xá đông đúc vẫn tìm về với màu xanh của thiên nhiên. Một chậu cây xanh không chỉ làm đẹp không gian mà còn giúp thanh lọc không khí, mang lại cảm giác thư thái, dễ chịu. Hơn thế, việc chăm chút cho cây cối còn nuôi dưỡng trong ta sự kiên nhẫn, tình yêu thiên nhiên và lối sống chậm rãi, ung dung. Đó cũng chính là sự "thung dung" mà tác giả nhắc tới. Em nghĩ đây là một nét đẹp văn hoá đáng được giữ gìn và lan toả. Bởi khi yêu thiên nhiên, con người sẽ biết sống hài hoà, gắn bó hơn với môi trường quanh mình.
(Đoạn văn trên gồm 8 câu, đảm bảo yêu cầu 7 – 9 câu.)
Thực hành tiếng Việt: MỞ RỘNG CẤU TRÚC CÂU
Ghi nhớ lý thuyết
Mở rộng cấu trúc câu là bổ sung hoặc mở rộng một thành phần câu nhằm tăng lượng thông tin cho câu. Một hình thức thường gặp là bổ sung thành phần câu (trạng ngữ, thành phần biệt lập).
Bài tập 1
Đề: Cho biết tác dụng của việc dùng trạng ngữ trong những câu sau:
a. Giữa những cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc mênh mông, Yên Tử cao 1 068 m, vút lên chon von tựa một vọng gác.
- Trạng ngữ: "Giữa những cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc mênh mông" → trạng ngữ chỉ nơi chốn.
- Tác dụng: xác định rõ vị trí, không gian của núi Yên Tử; làm nổi bật sự hùng vĩ, cao vút, hiểm trở của ngọn núi giữa vùng Đông Bắc rộng lớn. Câu văn trở nên cụ thể, sinh động và gợi hình hơn.
b. Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời và đi liền với nó, hệ thống chùa tháp... (phần in trong ảnh bị cắt)
- Trạng ngữ: "Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời và đi liền với nó" → trạng ngữ chỉ thời gian (gắn với quan hệ nguyên nhân – kết quả).
- Tác dụng: xác định mốc thời gian, đồng thời cho thấy mối liên hệ: sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm là tiền đề dẫn tới sự hình thành, phát triển của hệ thống chùa tháp. Trạng ngữ giúp câu chặt chẽ, làm rõ trình tự và quan hệ logic giữa các sự việc.
Phần (b) trong ảnh chưa hiện đủ câu nên mình giải dựa trên trạng ngữ đã cho. Nếu em gửi tiếp trang sau (có đủ câu b và các bài tập tiếp theo), mình sẽ giải trọn vẹn nhé.
